Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04 tháng 9 năm 2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm
Bà Bùi Thị Hảo

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLST- HNGĐ ngày 05/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 563/2024/QĐST- HNGĐ ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/Q-ST ngày 15/8/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phan Văn X, sinh năm 1986
    Địa chỉ: Khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Xin xét xử vắng mặt
  • * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh X:
    Ông Tạ Văn T - Luật sư - Văn phòng L và cộng sự, thuộc đoàn luật sư tỉnh P. Xin xét xử vắng mặt
  • - Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1989
    Địa chỉ: Khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
  • * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H:
    Ông Nguyễn Việt T1 - Luật sư - Công ty L1 và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Xin xét xử vắng mặt
  • Người đại diện theo ủy quyền của chị H về việc giải quyết tài sản:
    Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1964
    Địa chỉ: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Xin xét xử vắng mặt
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1964. Xin xét xử vắng mặt
    Địa chỉ: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    Bà Phan Thị D, sinh năm 1969. Xin xét xử vắng mặt
    Địa chỉ: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Về quan hệ hôn nhân:

- Theo nguyên đơn anh Phan Văn X trình bày: Anh và chị Phạm Thị H đăng ký kết hôn ngày 29/12/2009 tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau ở khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến tháng 6 năm 2018 chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, khi đó hai vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Đến tháng 12 năm 2022 thì anh chị bắt đầu xảy ra mâu thuẫn lý do là do bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 02 năm 2023, thì chị H đi xuất khẩu lao động tài Đài Loan, từ đó vợ chồng không liên lạc gì với nhau cho đến nay. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh làm đơn đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị H.

Theo bị đơn anh Phạm Thị H trình bày: Về thời gian kết hôn thì chịu nhất trí với lời trình bày của anh X. Tuy nhiên chị không nhất trí về lý do anh X xin ly hôn và chị không nhất trí ly hôn vì cho rằng anh X có quan hệ ngoại tình.

Sau đó chị H lại đi nước ngoài. Tại biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn T2 ngày 18/7/2024 (bố đẻ chị H) thể hiện trước khi đi nước ngoài chị H nói với ông là tình cảm anh chị hiện nay không còn nên nhất trí ly hôn với anh X.

* Về con chung: Anh Phan Văn X và chị Phạm Thị H thống nhất trình bày:

Anh chị có 2 con chung là cháu Phan Thị Hồng N, sinh ngày 07/10/2010 và cháu Phan Thanh N1, sinh ngày 26/10/2012. Ly hôn anh chị nhất trí thỏa thuận: Giao cháu N và cháu N1 cho chị H sẽ trực tiếp nuôi dưỡng; trong thời gian chị H ở nước ngoài tạm giao cả hai cháu cho ông Phạm Văn T3, bà Phan Thị D là bố mẹ đẻ của chị H trực tiếp nuôi dưỡng trong thời gian chị H ở nước ngoài, cho đến khi chị H về nước và anh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh X không đề nghị tòa án chia tài sản chung. Quá trình giải quyết vụ án, chị H có đề nghị về việc chia tài sản chung, chưa nộp tạm ứng án phí sau đó chị H và người đại diện theo ủy quyền của chị H thay đổi không đề nghị chia tài sản chung trong vụ án này nữa và tự giải quyết với nhau. Vì vậy, không xem xét chia tài sản chung trong vụ án này.

Về nợ chung và công sức đóng góp: Anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết vì vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí sơ thẩm: Anh X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T3 trình bày:

Ông bà là bố đẻ của chị Phạm Thị H. Chị H và anh X đều thống nhất với nhau là con chung sẽ giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm giao cho ông bà trực tiếp nuôi dưỡng các cháu trong thời gian chị H ở nước ngoài cho đến khi chị H trở về Việt Nam. Ông bà cũng nhất trí về quan điểm này của anh X và chị H. Đồng thời anh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Ông đồng ý nhận ủy quyền của con gái tông về việc giải quyết về vấn đề tài sản. Tuy nhiên về việc giải quyết tài sản chung, công sức công nợ chung của anh X và con gái ông thì ông với anh Phan Văn X thống nhất với nhau không đề nghị giải quyết trong vụ án này mà sẽ tự thỏa thuận với nhau.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 161, Điều 218, Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn X.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Văn X ly hôn chị Phạm Thị H.

Về con chung: Giao cháu Phan Thị Hồng N - Sinh ngày 07/10/2010 và cháu Phan Thanh N1 - Sinh ngày 26/10/2012 cho chị Phạm Thị H sẽ trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H ở nước ngoài tạm giao cả hai cháu cho ông Phạm Văn T3, bà Phan Thị D trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu trong thời gian chị H ở nước ngoài, cho đến khi chị H về nước.

Về án phí: Anh Phan Văn X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của các đương sự trình bày tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Phan Văn X có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Phan Thị H1. Theo công văn số 2348/QLXNC-P3 ngày 30/01/2024 của Cục Q - Bộ C: Chị Phan Thị H1 đã xuất cảnh ngày 06/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Trước khi xuất cảnh, chị H1 có hộ khẩu tại khu F, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay chị H1 đang ở nước ngoài và anh X không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H1. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn X và chị Phan Thị H1 đăng ký kết hôn ngày 29/12/2009 tại Ủy ban nhân dân xã X (nay là xã B) huyện T, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện. Do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên tình cảm vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên anh X1 cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H1 đã trở về Việt Nam và đã có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình. Chị cũng nhất trí ly hôn với anh X. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa anh X và chị H1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh chị thuận tình ly hôn là phù hợp nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: Anh chị có 2 con chung là cháu Phan Thị Hồng N - Sinh ngày 07/10/2010 và cháu Phan Thanh N1 - Sinh ngày 26/10/2012. Ly hôn anh chị nhất trí thỏa thuận: Giao cháu N và cháu N1 cho chị H1 sẽ trực tiếp nuôi dưỡng; trong thời gian chị H1 ở nước ngoài tạm giao cả hai cháu cho ông Phạm Văn T3, bà Phan Thị D là bố mẹ đẻ của chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng trong thời gian chị H1 ở nước ngoài, cho đến khi chị H1 về nước. Thỏa thuận của anh chị phù hợp với nguyện vọng của hai con chung nên cần công nhận.

[4]Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H1 về việc không yêu cầu anh X phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, công sức, công nợ chung: Do anh X và chị H1 tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: Anh Phan Văn X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 161, Điều 218, Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn X.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Văn X ly hôn chị Phạm Thị H.
  2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Hồng N, sinh ngày 07/10/2010 và cháu Phan Thanh N1, sinh ngày 26/10/2012 cho chị Phạm Thị H sẽ trực tiếp nuôi dưỡng. Anh X không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị H. Trong thời gian chị H ở nước ngoài nên tạm giao cả hai cháu cho ông Phạm Văn T3, bà Phan Thị D trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Phan Thị Hồng N và cháu Phan Thanh N1 trong thời gian chị H ở nước ngoài, cho đến khi chị H về nước.
  3. Về án phí: Anh Phan Văn X phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh X đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000139 ngày 04/3/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Anh X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Thời hạn kháng cáo của chị H là 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Bắc Sơn;
  • - Lưu: HS; AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Phan Văn X ly hôn với chị Phạm Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger