|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/KDTM-ST
Ngày: 04-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Vân - Ông Lại Hữu Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên
tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 36/2023/TLST-KDTM ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐST-KDTM ngày 06 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 241/2024/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 5 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 75/2024/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 92/2024/QĐST-KDTM ngày 23 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 511/2024/QĐST-KDTM ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1
Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Trung K, sinh năm: 1974 hoặc ông Trần Hải Thanh S, sinh năm: 1990; Cùng địa chỉ: 3 đường P, Khu dân cư H, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (ông K vắng mặt – ông S có mặt).
-
Bị đơn: Công ty TNHH C
Địa chỉ: 5 đường số A, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1 Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm: 1959 (vắng mặt)
- 3.2 Bà Đỗ Thị Anh Đ, sinh năm: 1971(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: C Khu phố B, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 3.3 Công ty TNHH S1
Địa chỉ: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1981. (có đơn xin vắng mặt)
- 3.4 Công ty TNHH S1
Địa chỉ: B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1981. (có đơn xin vắng mặt)
- 3.5 Công ty TNHH Đ1
Địa chỉ: 25/10 V, ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Bích K2, sinh năm: 1985 (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần N1, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay ông Trần Hải Thanh S là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/7/2019 Công ty TNHH C (sau đây viết tắt là: Công ty C) ký Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 và kèm theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 017/19/02/0259/TDH ngày 09/07/2019 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (sau đây gọi tắt là: Ngân hàng V1) Chi nhánh T1 để vay số tiền 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỉ đồng), thời hạn vay là 84 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay, mục đích vay là mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, phương thức cho vay từng lần; lãi suất cho vay trong hạn bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân có kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau bằng đồng Việt Nam của bên cho vay cộng với mức biên (M) là 3,5% được xác định và ghi trên Giấy nhận nợ tại thời điểm rút vốn vay và được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
Ngày 04/05/2022 Công ty C ký Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074 ngày 04/05/2022 và kèm theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 017/22/02/0074/HĐHM ngày 04/05/2022 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 Chi nhánh T1 để vay số tiền 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỉ đồng), thời hạn vay là 06 tháng/nhận nợ kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay và được ghi trên từng giấy nhận nợ, mục đích vay là tài trợ các nhu cầu ngắn hạn hợp pháp, hợp lý, hợp lệ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng nhưng không bao gồm nhu cầu vốn ngắn hạn phục vụ cho hoạt động đầu tư tài sản cố định; lãi suất cho vay trong hạn được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng Giấy nhận nợ; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên của Công ty C là:
- Phần đất có diện tích 394.3 m², thuộc thửa 741, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH 00517 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 và phần đất có diện tích 394.5 m², thuộc thửa 742, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH 00518 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/017/19/0243 ngày 09/07/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/017/19/0243 - PL01 ngày 28/12/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/017/19/0243 PL02 ngày 16/03/2022.
- Toàn bộ máy móc thiết bị theo Hợp đồng mua bán máy móc thiết bị số 01/2019/HĐKT/QNM-KH ngày 29/01/2019; Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số [...] ngày 25/03/2019, Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số [...] ngày 20/03/2019; Hóa đơn GTGT số 0000015 ngày 07/06/2019; Hóa đơn GTGT số 0000017 ngày 14/06/2019; Hóa đơn GTGT số 0000020 ngày 20/06/2019; Hóa đơn GTGT số 0000023 ngày 28/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 07/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 14/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 20/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 28/06/2019. Theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 02/017/19/0270 ngày 23/07/2019.
- Toàn bộ hàng hóa luân chuyển mà pháp luật không cấm giao dịch thuộc sở hữu của bên thế chấp, hình thành một phần hoặc toàn bộ từ nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nhưng không giới hạn hàng hóa mua về để bán (hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến,...), thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán, sản phẩm dở dang (sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm), nguyên liệu vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường, chi phí dịch vụ dở dang và bất kỳ hàng hóa
nào khác được hoặc có thể được sử dụng hoặc tiêu thụ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh) (trong Hợp Đồng gọi là “H Được Thế Chấp"), và được bên thế chấp để tại kho hàng địa chỉ ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và các kho khác do bên thế chấp quản lý hoặc do bên thế chấp thuê kho của bên thứ ba nhằm cất giữ hàng hóa (trong Hợp Đồng gọi là "Kho Để Hàng Hóa"). Hàng hóa được thế chấp hiện có được mô tả chỉ tiết thêm tại Phụ Lục mô tả hàng hóa được thế chấp (nếu có); Tất cả các quyền và lợi ích của bên thế chấp liên quan đến hàng hóa được thế chấp, kể cả quyền phát sinh từ hợp đồng, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiên, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi đối với hàng hóa được thế chấp, quyền truy đòi hàng hóa được thế chấp phát sinh từ hợp đồng liên quan đến hàng hóa được thế chấp và quyền nhận tiền bảo hiểm đối với hàng hóa được thế chấp; Phần giá trị gia tăng mà bên thế chấp đầu tư thêm gắn liền với hàng hóa được thế chấp; tất cả các quyền, quyền lợi, các khoản bồi hoàn và các khoản thanh toán khác và mọi tài sản mà bên thế chấp nhận được hoặc sẽ nhận được để bổ sung, trao đổi, thay thế cho bất kỳ quyền và tài sản nào nêu trên; tiền thu được, kể cả quyền nhận tiền thu được từ việc bán hoặc định đoạt theo cách khác đối với các tài sản bảo đảm được đề cập nêu trên và tài sản hình thành từ tiền thu được đó. Theo Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp hàng hóa số 02/017/20/0063 ngày 28/02/2020 ký giữa Ngân hàng V1 và Công ty C.
- Tất cả các quyền và lợi ích của bên thế chấp (trong Hợp Đồng gọi là "Quyền Tài Sản”) theo phát sinh từ các Quyền đòi nợ, tất cả các khoản phải thu từ Hợp đồng cung cấp dịch vụ của bên thế chấp đối với các bên có nghĩa vụ thanh toán với bên thế chấp phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của bên thế chấp (các khoản phải thu này được hạch toán trong sổ sách kế toán của bên thế chấp) hình thành một phần hoặc toàn bộ từ nghĩa vụ được bảo đảm với giá trị tại mọi thời điểm là 22.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi hai tỷ ba trăm triệu đồng) (trong Hợp Đồng gọi là "Hợp Đồng Liên Quan"); Tất cả các quyền, quyền lợi, các khoản bồi hoàn, các tài sản và các khoản thanh toán khác mà bên thế chấp nhận được hoặc sẽ nhận được để bổ sung, thay thế cho, thuộc về hoặc liên quan đến bất kỳ quyền và tài sản nào được đề cập trong đoạn nêu trên; tiền thu được, kể cả quyền nhận tiền thu được từ việc bán, chuyển nhượng hoặc định đoạt theo cách khác đối với các tài sản bảo đảm được đề cập trong các đoạn nêu trên và tài sản hình thành từ tiền thu được đó. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng số 02/017/20/0064 ngày 28/02/2020.
Ngân hàng đã giải ngân các khoản vay trên cho Công ty C. Kể từ sau khi nhận tiền vay, Công ty C đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc như sau: Đối với Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 ngày 09/07/2019 đã thanh toán 4.088.893.730 đồng; Đối với Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074/HĐHM ngày 04/05/2022 đã thanh toán 637.938.022 đồng.
Kể từ ngày 02/11/2022 Công ty C không thanh toán cho ngân hàng, các khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp yêu cầu Công ty C thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên đến nay, Công ty C vẫn
chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng, gây khó khăn lớn cho quá trình xử lý, thu hồi nợ xấu của ngân hàng, công tác thu hồi vốn của Nhà nước.
Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần N1 khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N1 toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 03/09/2024, tổng dư nợ vay của khách hàng tại V2 là 36.034.633.068 đồng (Ba mươi sáu tỉ, không trăm ba mươi bốn triệu, sáu trăm ba mươi ba ngàn, không trăm sáu mươi tám đồng), trong đó:
- Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 và kèm theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 017/19/02/0259/TDH ngày 09/07/2019 là: 13.032.904.425 đồng, bao gồm: nợ gốc 10.859.473.063 đồng, nợ lãi 2.057.852.062 đồng, lãi phạt trên dư nợ gốc quá hạn 115.579.300 đồng.
- Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074 ngày 04/05/2022 và kèm theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 017/22/02/0074/HĐHM ngày 04/05/2022 là: 23.001.728.643 đồng, bao gồm: nợ gốc 19.362.061.978 đồng, nợ lãi 2.454.542.251 đồng, lãi phạt trên dư nợ gốc quá hạn 1.185.124.414 đồng.
Và toàn bộ các khoản lãi, lãi quá hạn, phí tiếp tục phát sinh phát sinh tiếp theo từ ngày 04/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng vay đã ký cho đến khi Công ty C cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ.
Trường hợp Công ty C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Nguyễn Văn K1 và bà Đỗ Thị Anh Đ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/017/19/0243 ngày 09/07/2019 được ký giữa ông Nguyễn Văn K1, bà Đỗ Thị Anh Đ và Ngân hàng V1, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/017/19/0243 PL01 ngày 28/12/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/017/19/0243 - PL02 ngày 16/03/2022; các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 02/017/19/0270 ngày 23/07/2019 được ký giữa Công ty C và Ngân hàng V1; Hợp đồng thế chấp hàng hóa số 02/017/20/0063 ngày 28/02/2020 ký giữa Ngân hàng V1 và Công ty TNHH C; Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng số 02/017/20/0064 ngày 28/02/2020 được ký giữa Khách hàng và Ngân hàng V1 để thu hồi nợ theo quy định của Pháp luật.
Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của khách hàng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, đại diện nguyên đơn không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Bị đơn Công ty TNHH C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1, bà Đỗ Thị Anh Đ vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S1 và Công ty TNHH S1 có người đại diện theo pháp luật ông Lê Hoàng V trình bày:
Công ty TNHH S1 và Công ty TNHH S1 có ký Hợp đồng thuê nhà và văn phòng tại địa chỉ B và B ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa 741, 742 tờ bản đồ số 18 do ông Nguyễn Văn H đại diện với thời hạn 03 năm. Đối với tranh chấp “hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và Công ty C thì ông không có ý kiến. Đối với Hợp đồng thuê giữa Công ty TNHH S1, Công ty TNHH S1 với ông H thì ông không có yêu cầu giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp thì sẽ khởi kiện thành một vụ án khác. Do không có liên quan nên ông đề nghị Toà án không triệu tập và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Đ1 có người đại diện theo pháp luật bà Đỗ Thị Bích K2 trình bày:
Đối với tranh chấp “hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và Công ty TNHH C thì bà không có ý kiến gì. Do không có liên quan nên bà đề nghị Toà án không triệu tập và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1
- + Công ty TNHH C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền còn nợ tính đến ngày 03/9/2024 là 36.034.633.068 (ba mươi sáu tỷ không trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn không trăm sáu mươi tám) đồng.
- + Trường hợp Công ty TNHH C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự
có thẩm quyền kê biên xử lý tài sản bảo đảm của Công ty TNHH C theo các Hợp đồng thế chấp: Hợp Đồng Thế Chấp Quyền sử dụng đất số 01/017/193/0243 ngày 09/07/2019 được ký giữa ông Nguyễn Văn K1, bà Đỗ Thị Anh Đ và Ngân hàng thương mại cổ phần N1 Chi nhánh T1; Hợp Đồng thế chấp máy móc thiết bị số 02/017/19/0270 ngày 23/07/2019 được ký giữa Công ty TNHH C và Ngân hàng thương mại cổ phần N1 Chi nhánh T1.
+ Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty TNHH C để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện: Trường hợp Công ty TNHH C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên xử lý tài sản bảo đảm của Công ty TNHH C theo các Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp hàng hóa số 02/017/20/0063 ngày 28/02/2020 ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 Chi nhánh T1 và Công ty TNHH C; Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng số 02/017/20/0064 ngày 28/02/2020 được ký giữa Công ty TNHH C và Ngân hàng N1 Chi nhánh T1
- Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngân hàng thương mại cổ phần N1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với Công ty TNHH C (sau đây viết tắt là Công ty C). Theo Điều 10 của các Hợp đồng: Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 ngày 09/7/2019, Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 017/19/02/0259/TDH ngày 09/07/2019, Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074 ngày 04/05/2022, Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 017/22/02/0074/HĐHM ngày 04/05/2022 thì Ngân hàng V1 và Công ty C thoả thuận các bên “đồng ý giải quyết tranh chấp tại Toà án nhân dân có thẩm quyền nơi Ngân hàng thương mại cổ phần N1- chi nhánh T1 có trụ sở tại thời điểm nộp đơn khởi kiện”, nguyên đơn có đơn lựa chọn thẩm quyền giải quyết tranh chấp là nơi thực hiện hợp đồng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Công ty C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1, bà Đỗ Thị Anh Đ đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S1, Công ty TNHH S1, Công ty TNHH Đ1 có người đại diện theo pháp luật đã đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Công ty C, ông Nguyễn Văn K1, bà Đỗ Thị Anh Đ, Công ty TNHH S1, Công ty TNHH S1, Công ty TNHH Đ1 theo quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bản tự khai và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng V1 thì có cơ sở xác định:
[4] Ngày 09/07/2019 Công ty C có ký Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 với Ngân hàng V1 và được Ngân hàng V1 duyệt cấp tín dụng số tiền là 35.000.000.000 (ba mươi lăm tỷ) đồng; giới hạn cấp tín dụng là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng.
[5] Căn cứ hợp đồng cấp tín dụng nêu trên thì cùng ngày 09/7/2019 Ngân hàng V1 và công ty C ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 017/19/02/0259/TDH với số vay số tiền: 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỉ đồng); lãi suất cho vay trong hạn bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân có kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau bằng đồng Việt Nam của bên cho vay cộng với mức biên (M) là 3,5% được xác định và ghi trên Giấy nhận nợ tại thời điểm rút vốn vay và được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; thời hạn vay 84 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; mục đích vay để mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh; phương thức trả nợ gốc là trả chậm theo lịch trả nợ vào ngày 26 dương lịch hàng tháng trong vòng 84 tháng như sau: ngày trả gốc đầu tiên là ngày 26/02/2020, kỳ trả nợ là 01 tháng, mỗi tháng trả 192.300.000 đồng, tháng cuối cùng trả 192.900.000 đồng.
[6] Ngày 23/7/2019 Ngân hàng đã giải ngân cho và giải ngân vốn cho vay cho công ty C thông qua giấy nhận nợ số 01 ngày 23/7/2019.
[7] Ngày 04/5/2022 Công ty C có ký Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0274 với Ngân hàng V1 và được Ngân hàng V1 duyệt cấp tín dụng số tiền là 31.300.000.000 (ba mươi mốt tỷ ba trăm triệu) đồng; giới hạn cấp tín dụng là đến hết ngày 23/02/2023.
[8] Căn cứ hợp đồng cấp tín dụng ký ngày 04/5/2022, cùng ngày Công ty C và Ngân hàng V1 ký Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 017/22/02/0074/HĐHM với số tiền hạn mức cho vay là 20.000.000.000 (hai mươi tỷ) đồng; lãi suất cho vay trong hạn được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng Giấy nhận nợ, cụ thể theo các giấy nhận nợ lãi suất cho vay trong hạn là 7%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; thời hạn vay 06 tháng/nhận nợ kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay và được ghi trên từng giấy nhận nợ; mục đích vay để tài trợ các nhu cầu
ngắn hạn hợp pháp, hợp lý, hợp lệ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng nhưng không bao gồm nhu cầu vốn ngắn hạn phục vụ cho hoạt động đầu tư tài sản cố định; phương thức trả nợ gốc là vào ngày đến hạn được ghi trên Giấy nhận nợ.
[9] Ngân hàng V1 đã giải ngân cho công ty C thông qua các giấy nhận nợ vào các ngày như sau: ngày 01/6/2022 với số tiền 1.270.000.000 đồng, ngày 02/6/2022 với số tiền 3.900.000.000 đồng, ngày 03/6/2022 với số tiền là 7.805.000.000 đồng, ngày 24/6/2022 với số tiền là 6.500.000.000 đồng.
[10] Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
[11] Tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Quá trình tố tụng, mặc dù Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn công ty C. Tại phiên tòa hôm nay Công ty C vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản cho biết ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, công ty C đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật. Điều này cho thấy công ty C không có thiện chí không có thiện chí hòa giải cùng như thanh toán các khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng V1.
[12] Căn cứ các tài liệu chứng cứ cùng như các giấy nhận nợ do công ty C ký xác nhận thì có căn cứ xác định Ngân hàng V1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình (cấp tín dụng, giải ngân số tiền vay) theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng cho công ty C.
[13] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng V1 xác nhận đến ngày 03/9/2024 Công ty C đã trả được cho ngân hàng như sau đối với Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 ngày 09/07/2019 đã thanh toán 4.088.893.730 đồng; Đối với Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074/HĐHM ngày 04/05/2022 đã thanh toán 637.938.022 đồng. Công ty C còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 03/9/2024 theo các hợp đồng nêu trên là: 36.034.633.068 (ba mươi sáu tỷ không trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn không trăm sáu mươi tám) đồng.
[14] Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần N1 kính đề nghị Quý Toà buộc Công ty C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N1 toàn bộ số
tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 03/09/2024, tổng dư nợ vay của khách hàng tại V2 là 36.034.633.068 đồng (Ba mươi sáu tỉ, không trăm ba mươi bốn triệu, sáu trăm ba mươi ba ngàn, không trăm sáu mươi tám đồng), trong đó:
[15] - Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 và kèm theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 017/19/02/0259/TDH ngày 09/07/2019 là: 13.032.904.425 đồng, bao gồm: nợ gốc 10.859.473.063 đồng, nợ lãi 2.057.852.062 đồng, lãi phạt trên dư nợ gốc quá hạn 115.579.300 đồng.
[16] - Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074 ngày 04/05/2022 và kèm theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 017/22/02/0074/HĐHM ngày 04/05/2022 là: 23.001.728.643 đồng, bao gồm: nợ gốc 19.362.061.978 đồng; nợ lãi 2.454.542.251 đồng; lãi phạt trên dư nợ gốc quá hạn 1.185.124.414 đồng.
[17] Công ty C đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn vay và tiền lãi theo hợp đồng đã ký nên Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu công ty C trả nợ vay là có căn cứ.
[18] Để đảm bảo cho các khoản vay của công ty C, công ty C có tài sản bảo đảm của bên thứ ba gồm: Quyền sử dụng đất với diện tích 394,3 m² thuộc thửa 741, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH 00517 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cùng các tài sản gắn liền với đất; Quyền sử dụng đất với diện tích 394,5 m² thuộc thửa 742, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH 00518 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cùng các tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/017/19/0243 ngày 09/07/2019 giữa ông Nguyễn Văn K1, bà Đỗ Thị Anh Đ và Ngân hàng V1 được Văn phòng C1 chứng nhận, số công chứng: 012761, quyển số: 17 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/07/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/017/19/0243 - PL01 ngày 28/12/2020 được Văn phòng C1 chứng nhận, số công chứng: 025375, quyển số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/12/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/017/19/0243 PL02 ngày 16/03/2022 được Văn phòng C1 chứng nhận, số công chứng: 005305, quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/03/2022.
[19] Ngoài ra, để bảo đảm các khoản tín dụng trên, Công ty C có thế chấp tài sản của Công ty là: Toàn bộ máy móc thiết bị thế chấp theo Hợp đồng mua bán máy móc thiết bị số 01/2019/HĐKT/QNM-KH ngày 29/01/2019; Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số [...] ngày 25/03/2019, Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số [...] ngày 20/03/2019; Hóa đơn GTGT số 0000015 ngày 07/06/2019; Hóa đơn GTGT số 0000017 ngày 14/06/2019; Hóa đơn GTGT số 0000020 ngày 20/06/2019; Hóa đơn GTGT số 0000023 ngày 28/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 07/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 14/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 20/06/2019, Phiếu xuất kho ngày 28/06/2019. Theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 02/017/19/0270 ngày 23/07/2019 giữa Công ty C và Ngân hàng V1 được Văn phòng C1 chứng nhận, số công chứng: 013661, quyển số: 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/7/2019 cụ thể nhu sau: 15 máy ép model PR 8500 TBH (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 04 máy chặt model JY-309 ( do N sản xuất năm 2019); 06 máy ép cao tần Model ZN2500 (do Đài loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép nhựa Model GEK160KIS (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép nhựa Model VN200A5 (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 04 máy Nosew model K3 (do N sản xuất năm 2019); 01 máy CCM model CM-G97N3L (do N sản xuất năm 2019); 06 máy sấy in 3D tự động (do N sản xuất năm 2019); 01 máy dập sắt (do N sản xuất năm 2019); 03 máy ép nhiệt Model DL5N25T (do Đài loan sản xuất năm 2019); 01 máy sấy dẻo model DSK500 (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy hút chân không model DHK32N (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 02 máy bơm hơi chụp phip model NBC10 (do N sản xuất năm 2019); 01 máy phun cắt model DMP2000 (do N sản xuất năm 2019); 03 máy ép nóng model DMN250 (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép lạnh model F3B5L 45 tấn (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép lạnh model M2N2 15 tấn (do Đài Loan sản xuất năm 2019).
[20] Ngày 04/7/2023 Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp, theo đó:
- Toàn bộ máy móc thiết bị thế chấp Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 02/017/19/0270 ngày 23/07/2019 giữa Công ty C và Ngân hàng V1 hiện nay vẫn đang đặt tại trụ sở Công ty C.
- Quyền sử dụng đất với diện 394,3 m² thuộc thửa 741, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyền sử dụng đất với diện tích 394,5 m² thuộc thửa 742, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh có xây dựng nhà xưởng được thể hiện cụ thể theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm kiểm định bản đồ và T2 lập ngày 04/3/2024. Theo công văn số 2362/UBND ngày 15/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã X, huyện H và công văn số 03/QLĐT ngày 02/01/2024 của Phòng Quản lý đô thị Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tài liệu đính kèm công văn cung cấp thể hiện ông Nguyễn Văn K1 được cấp Giấy phép xây dựng số 3924/GPXD ngày 17/8/2015 và Giấy phép xây dựng số 3925/GPXD ngày 17/8/2015 để xây dựng công trình nhà ở riêng lẻ trên phần đất diện 394,3 m² thuộc thửa 741, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và trên phần đất với diện tích 394,5 m² thuộc thửa 742, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
[21] Công ty C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ điểm 8.6 Điều 8 của Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 ký ngày 09/7/2019; điểm 8.6 Điều 8
của Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074 ngày 04/05/2022; khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/017/19/0243 ngày 09/07/2019; khoản 4.1 Điều 4 Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 02/017/19/0270 ngày 23/07/2019 Ngân hàng V1 yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nêu trên của Công ty C, ông Nguyễn Văn K1 và bà Đỗ Thị Anh Đ để thanh toán các khoản nợ vay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[22] Ngoài ra, từ ngày 04/9/2024 Công ty C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[23] Đối với các tài sản bảo đảm là Toàn bộ hàng hóa luân chuyển mà pháp luật không cấm giao dịch thuộc sở hữu của bên thế chấp, hình thành một phần hoặc toàn bộ từ nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nhưng không giới hạn hàng hóa mua về để bán (hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến,...), thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán, sản phẩm dở dang (sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm), nguyên liệu vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường, chi phí dịch vụ dở dang và bất kỳ hàng hóa nào khác được hoặc có thể được sử dụng hoặc tiêu thụ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh) (trong Hợp Đồng gọi là “H Được Thế Chấp"), và được bên thế chấp để tại kho hàng địa chỉ ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và các kho khác do bên thế chấp quản lý hoặc do bên thế chấp thuê kho của bên thứ ba nhằm cất giữ hàng hóa (trong Hợp Đồng gọi là "Kho Để Hàng Hóa"). Hàng hóa được thế chấp hiện có được mô tả chi tiết thêm tại Phụ lục mô tả hàng hóa được thế chấp (nếu có); Tất cả các quyền và lợi ích của bên thế chấp liên quan đến hàng hóa được thế chấp, kể cả quyền phát sinh từ hợp đồng, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi đối với hàng hóa được thế chấp, quyền truy đòi hàng hóa được thế chấp phát sinh từ hợp đồng liên quan đến hàng hóa được thế chấp và quyền nhận tiền bảo hiểm đối với hàng hóa được thế chấp; Phần giá trị gia tăng mà bên thế chấp đầu tư thêm gắn liền với hàng hóa được thế chấp; tất cả các quyền, quyền lợi, các khoản bồi hoàn và các khoản thanh toán khác và mọi tài sản mà bên thế chấp nhận được hoặc sẽ nhận được để bổ sung, trao đổi, thay thế cho bất kỳ quyền và tài sản nào nêu trên; tiền thu được, kể cả quyền nhận tiền thu được từ việc bán hoặc định đoạt theo cách khác đối với các tài sản bảo đảm được đề cập nêu trên và tài sản hình thành từ tiền thu được đó. Theo Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp hàng hóa số 02/017/20/0063 ngày 28/02/2020 ký giữa Ngân hàng V1 và Công ty C được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký
giao dịch, tài sản ngày 20/03/2020 và tất cả các quyền và lợi ích của bên thế chấp (trong Hợp Đồng gọi là "Quyền Tài Sản”) theo phát sinh từ các Quyền đòi nợ, tất cả các khoản phải thu từ Hợp đồng cung cấp dịch vụ của bên thế chấp đối với các bên có nghĩa vụ thanh toán với bên thế chấp phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của bên thế chấp (các khoản phải thu này được hạch toán trong sổ sách kế toán của bên thế chấp) hình thành một phần hoặc toàn bộ từ nghĩa vụ được bảo đảm với giá trị tại mọi thời điểm là 22.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi hai tỷ ba trăm triệu đồng) (trong Hợp Đồng gọi là "Hợp đồng liên quan"); Tất cả các quyền, quyền lợi, các khoản bồi hoàn, các tài sản và các khoản thanh toán khác mà bên thế chấp nhận được hoặc sẽ nhận được để bổ sung, thay thế cho, thuộc về hoặc liên quan đến bất kỳ quyền và tài sản nào được đề cập trong đoạn nêu trên; tiền thu được, kể cả quyền nhận tiền thu được từ việc bán, chuyển nhượng hoặc định đoạt theo cách khác đối với các tài sản bảo đảm được đề cập trong các đoạn nêu trên và tài sản hình thành từ tiền thu được đó theo Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng số 02/017/20/0064 ngày 28/02/2020. Do các tài sản thế chấp này không xác định được số lượng, chủng loại hàng hóa, quyền và lợi ích cụ thể tại thời điểm thế chấp cũng như tại thời điểm giải quyết tranh chấp nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.
[24] Đối với yêu cầu nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của Công ty TNHH C đề thu hồi nợ theo quy định của pháp luật: xét thấy đây là quyền của đương sự giai đoạn thi hành án nên có cơ sở chấp nhận.
[25] Về chi phí tố tụng: ngân hàng V1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng đã tạm ứng.
[26] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận và nguyên đơn phải chịu án phí không có giá ngạch đối với phần yêu cầu không được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N1.
Buộc Công ty TNHH C trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 toàn bộ số nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 03/9/2024 với số tiền là 36.034.633.068 (ba mươi sáu tỷ không trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn không trăm sáu mươi tám) đồng trong đó:
- Hợp đồng cấp tín dụng số 017/19/02/0259 và kèm theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 017/19/02/0259/TDH ngày 09/07/2019 là: 13.032.904.425 (mười ba tỷ không trăm ba mươi hai triệu chín trăm lẻ bốn ngàn bốn trăm hai mươi lăm) đồng, bao gồm:
- + Nợ gốc: 10.859.473.063 (mười tỷ tám trăm năm mươi chín triệu không trăm sáu mươi ba) đồng;
- + Nợ lãi: 2.057.852.062 (hai tỷ không trăm năm mươi bảy triệu tám trăm năm mươi hai ngàn không trăm sáu mươi hai) đồng;
- + Lãi phạt trên dư nợ gốc quá hạn: 115.579.300 (một trăm mười lăm triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn ba trăm) đồng.
- Hợp đồng cấp tín dụng số 017/22/02/0074 ngày 04/05/2022 và kèm theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 017/22/02/0074/HĐHM ngày 04/05/2022 là: 23.001.728.643 (hai mươi ba tỷ một triệu bảy trăm hai mươi tám ngàn sáu trăm bốn mươi ba) đồng, bao gồm:
- + Nợ gốc: 19.362.061.978 (mười chín tỷ ba trăm sáu mươi hai triệu không trăm sáu mươi mốt ngàn chín trăm bảy nươi tám) đồng;
- + Nợ lãi: 2.454.542.251 (hai tỷ bốn trăm năm mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi hai ngàn hai trăm năm mươi mốt) đồng;
- + Lãi phạt trên dư nợ gốc quá hạn: 1.185.124.414 (một tỷ một trăm tám mươi lăm triệu một trăm hai mươi bốn ngàn bốn trăm mười bốn) đồng.
Kể từ ngày 04/9/2024 Công ty TNHH C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Trường hợp Công ty TNHH C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền theo án tuyên, Ngân hàng thương mại cổ phần N1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật:
- Quyền sử dụng đất phần đất diện tích 394,3 m² thuộc thửa 741 tờ bản đồ số 18 xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 142081, số vào sổ cấp GCN: 00517 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 và quyền sử dụng đất phần đất diện tích 394,5 m² thuộc thửa 742 tờ bản đồ số 18 xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 142082, số vào sổ cấp GCN: 00518 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/017/19/0243 ký ngày 09/7/2019 được Văn phòng công chứng Mai Việt Cường Thành phố C1 chứng thực số 012761, quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/017/19/0243-PL01 ký ngày 28/12/2020 được Văn phòng công chứng Mai Việt Cường Thành phố C1 chứng thực số 025375, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/017/19/0243-PL02 ký ngày 16/3/2022 được Văn phòng công chứng Mai Việt Cường Thành phố C1 chứng thực số 005305, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Nguyễn Văn K1, bà Đỗ Thị Anh Đ và Ngân hàng thương mại cổ phần N1.
- Quyền sở hữu đối với các máy móc thiết bị: 15 máy ép model PR 8500 TBH (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 04 máy chặt model JY-309 ( do N sản xuất năm 2019); 06 máy ép cao tần Model ZN2500 (do Đài loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép nhựa Model GEK160KIS (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép nhựa Model VN200A5 (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 04 máy Nosew model K3 (do N sản xuất năm 2019); 01 máy CCM model CM-G97N3L (do N sản xuất năm 2019); 06 máy sấy in 3D tự động (do N sản xuất năm 2019); 01 máy dập sắt (do N sản xuất năm 2019); 03 máy ép nhiệt Model DL5N25T (do Đài loan sản xuất năm 2019); 01 máy sấy dẻo model DSK500 (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy hút chân không model DHK32N (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 02 máy bơm hơi chụp phip model NBC10 (do N sản xuất năm 2019); 01 máy phun cắt model DMP2000 (do N sản xuất năm 2019); 03 máy ép nóng model DMN250 (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép lạnh model F3B5L 45 tấn (do Đài Loan sản xuất năm 2019); 01 máy ép lạnh model M2N2 15 tấn (do Đài Loan sản xuất năm 2019) theo hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 02/2017/19/0270 ký ngày 23/7/2019 giữa Công ty TNHH C với Ngân hàng TMCP N1 được Văn phòng C1 chứng thực số 013661, quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD.
3. Không chấp nhận yêu cầu phát mãi Đối với các tài sản bảo đảm là Toàn bộ hàng hóa luân chuyển mà pháp luật không cấm giao dịch thuộc sở hữu của bên thế chấp, hình thành một phần hoặc toàn bộ từ nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nhưng không giới hạn hàng hóa mua về để bán (hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến,...), thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán, sản phẩm dở dang (sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm), nguyên liệu vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường, chi phí dịch vụ dở dang và bất kỳ hàng hóa nào khác được hoặc có thể được sử dụng hoặc tiêu thụ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh) (trong Hợp Đồng gọi là “H Được Thế Chấp"), và được bên thế chấp để tại kho hàng địa chỉ ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và các kho khác do bên thế chấp quản lý hoặc do bên thế chấp thuê kho của bên thứ ba nhằm cất giữ hàng hóa (trong Hợp Đồng gọi là "Kho Để Hàng Hóa"). Hàng hóa được thế chấp hiện có được mô tả chỉ tiết thêm tại Phụ Lục mô tả hàng hóa được thế chấp (nếu có); Tất cả các quyền và lợi ích của bên thế chấp liên quan đến hàng hóa được thế chấp, kể cả quyền phát sinh từ hợp đồng, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiên, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi đối với hàng hóa được thế chấp, quyền truy đòi hàng hóa được thế chấp phát sinh từ hợp đồng liên quan đến hàng hóa được thế chấp và quyền nhận tiền bảo hiểm đối với hàng hóa được thế chấp; Phần giá trị gia tăng mà bên thế chấp đầu tư thêm gắn liền với hàng hóa được thế chấp; tất cả các quyền, quyền lợi, các khoản bồi hoàn và các khoản thanh toán khác và mọi tài sản mà bên thế chấp nhận được hoặc sẽ nhận được để bổ sung, trao đổi, thay thế cho bất kỳ quyền và tài sản nào nêu trên; tiền thu được, kể cả quyền nhận tiền thu được từ việc bán hoặc định đoạt theo cách khác đối với các tài sản bảo đảm được đề cập nêu trên và tài sản hình thành từ tiền thu được đó. Theo Hợp đồng thế chấp hàng hóa số 02/017/20/0063 ngày 28/02/2020 ký giữa Ngân hàng V1 và Công ty TNHH C được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản ngày 20/03/2020 và tất cả các quyền và lợi ích của bên thế chấp (trong Hợp Đồng gọi là "Quyền Tài Sản”) theo phát sinh từ các Quyền đòi nợ, tất cả các khoản phải thu từ Hợp đồng cung cấp dịch vụ của bên thế chấp đối với các bên có nghĩa vụ thanh toán với bên thế chấp phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của bên thế chấp (các khoản phải thu này được hạch toán trong sổ sách kế toán của bên thế chấp) hình thành một phần hoặc toàn bộ từ nghĩa vụ được bảo đảm với giá trị tại mọi thời điểm là 22.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi hai tỷ ba trăm triệu đồng) (trong Hợp Đồng gọi là "Hợp Đồng Liên Quan"); Tất cả các quyền, quyền lợi, các khoản bồi hoàn, các tài sản và các khoản thanh toán khác mà bên thế chấp nhận được hoặc sẽ nhận được để bổ sung, thay thế cho, thuộc về hoặc liên quan đến bất kỳ
quyền và tài sản nào được đề cập trong đoạn nêu trên; tiền thu được, kể cả quyền nhận tiền thu được từ việc bán, chuyển nhượng hoặc định đoạt theo cách khác đối với các tài sản bảo đảm được đề cập trong các đoạn nêu trên và tài sản hình thành từ tiền thu được đó theo Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng số 02/017/20/0064 ngày 28/02/2020.
4. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ thanh toán nợ thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty TNHH C đề thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
5. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần N1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng đã tạm ứng.
6. Về án phí:
6.1. Công ty TNHH C chịu 144.034.633 (một trăm bốn mươi bốn triệu không trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm ba mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6.2. Ngân hàng thương mại cổ phần N1 chịu 3.000.000 (ba triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 69.659.188 (sáu mươi chín triệu sáu trăm năm mươi chín ngàn một trăm tám mươi tám) đồng theo biên lai thu tạm ứng áp phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0042708 ngày 29/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; Ngân hàng thương mại cổ phần N1 được nhận lại 66.659.188 (sáu mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi chín ngàn một trăm tám mươi tám) đồng.
7. Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
8. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự Trong thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Duy Linh |
Bản án số 81/2024/KDTM-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 81/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị đơn vắng mặt
