Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/DS-ST

Ngày 29/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Thanh Tồn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Trần Văn Phước;

2/. Ông Trần Thanh Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 122/2024/TLST-DS, ngày 03 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2024/QÐST- DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 335/2024/QÐST-DS ngày 12/8/2024 giữa:

1/. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ;

Địa chỉ: số A, đường P, Phường C, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Thanh H, chức vụ: Nhân viên khách hàng cá nhân, Phòng G.

2/. Bị đơn: Chị Nguyễn Thảo N, sinh năm 1987;

Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trình bày: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Nguyễn Thảo N trả nợ cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 31/7/2024 tổng số tiền 22.948.246 đồng (trong đó, nợ gốc 11.980.656 đồng, nợ lãi trong hạn 2.139.344 đồng, nợ lãi quá hạn là 8.828.246 đồng) và các khoản lãi, chi phí phát sinh tính theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng.

Bị đơn bà Nguyễn Thảo N đã được Toà án nhân dân huyện Phước Long triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu là trễ hạn theo quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, của đương sự là đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự; Riêng bị đơn chị T1 chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đòi chị Huỳnh Thị Kiều T1 trả tiền nợ gốc 699.000 đồng và tiền phí 11.623.772 đồng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P (O). Buộc chị Huỳnh Thị Kiều T1 có nghĩa vụ trả nợ vay tại Ngân hàng với số tiền tính đến ngày 26/02/2024 là 44.910.664 đồng (trong đó nợ gốc: 36.064.110 đồng, nợ lãi trong hạn là 8.846.554 đồng,) và lãi phát sinh từ ngày 27/02/2024 theo mức lãi quá hạn mà các bên đã ký kết, đến khi trả xong nợ. Án phí: chị T1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần P kiện chị Huỳnh Thị Kiều T1 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Chị T1 có địa chỉ cư trú tại ấp H, xã V, huyện P nên căn cứ vào quy định tại Điều 35; Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phước Long. Anh L có đơn xin vắng mặt, chị T1 vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do, nên việc xét xử vắng mặt anh L và chị T1 là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P đối với chị Huỳnh Thị Kiều T1:

[3.1] Theo các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp thể hiện, ngày 03/8/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần P và chị Huỳnh Thị Kiều T1 có ký giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng theo đó Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho chị T1 vay số tiền là 40.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn có chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng, lãi suất 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Ngân hàng đã chuyển số tiền vay vào tài khoản ngân hàng của chị T1, bắt đầu từ ngày 15/9/2022 chị T1 đã sử dụng số tiền vay. Chị T1 đã thanh toán một phần tiền gốc, lãi, phí cho ngân hàng. Chị T1 đã vi phạm nghĩa vụ và hiện tại khoản vay nêu trên đã chuyển sang nợ quá hạn. Hiện tại, chị T1 còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 29/8/2024 là 70.638.691 đồng (trong đó nợ gốc 36.004.110 đồng, tiền lãi 23.055.809 đồng và phí 11.623.772).

[3.2] Ngày 28/8/2024 Ngân hàng có đơn xin rút lại một phần nợ gốc là 699.000 đồng và tiền phí số tiền 11.623.772 đồng. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, vì vậy căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên bố đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu này của Ngân hàng.

[3.3] Hiện tại Ngân hàng tiếp tục yêu cầu chị T1 trả nợ cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 28/8/2024 tổng số tiền 59.014.919 đồng (Trong đó, nợ gốc 35.959.110 đồng, nợ lãi 23.055.809 đồng).

[3.4] Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để thông báo cho chị T1 biết về việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị trả khoản tiền nêu trên, nhưng đến nay chị T1 cũng không cung cấp lời khai, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, việc chị T1 không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.5] Từ những chứng cứ, quy định của pháp luật nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P. Buộc chị T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 28/8/2024 tổng số tiền 59.014.919 đồng (Trong đó, nợ gốc 35.959.110 đồng, nợ lãi 23.055.809 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 29/8/2024 cho đến khi chị T1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

[4] Về án phí xét xử dân sự sơ thẩm: buộc chị T1 phải chịu theo quy định pháp luật.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26; 35; 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 228 và Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 280, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.

Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/8/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đòi chị Huỳnh Thị Kiều T1 trả tiền nợ gốc 699.000 đồng và tiền phí 11.623.772 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đòi chị Huỳnh Thị Kiều T1 trả nợ vay gốc, nợ vay lãi theo hợp đồng đã ký kết.

    Buộc chị Huỳnh Thị Kiều T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P tạm tính đến ngày 28/8/2024 tổng số tiền 59.014.919 đồng (Trong đó, nợ gốc 35.959.110 đồng, nợ lãi 23.055.809 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí xét xử dân sự có giá ngạch: Buộc chị Huỳnh Thị Kiều T1 phải nộp án phí có giá ngạch 5% trên số tiền có nghĩa vụ trả nợ là 2.950.745 đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần P đã tạm ứng số tiền 1.429.000 đồng theo biên lai số 0006762 ngày 03/4/2024 sẽ được hoàn lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc cưởng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Quách Thanh T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2023/DS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 81/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đông Á yêu cầu chị Nguyên trả tiên vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger