Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NG H

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23 – 8 – 2024

V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG H, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn A Đam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Tươi .

Ông Hà Bảo Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ân Tình là Thư ký Toà án nhân dân huyện Ng H, tỉnh Cà Mau.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ng H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST- HNGĐ Ngày 04 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST – HNGĐ Ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú: Ấp Kại L, xã Tam Giang T, huyện Ng H, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: ấp Kại L, xã Tam Giang T, huyện Ng H, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà chị Trương Thị T trình bày: Chị và anh Phạm Văn N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/8/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Tam Giang T, huyện Ng H, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẩn, thường hay cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh N không chăm lo cho gia đình và tham gia tệ nạn xã hội, gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn N.

Về con chung: Chị Trương Thị T và anh Phạm Văn N có 01 con chung tên Phạm Kim C, sinh ngày 28/7/2017, hiện nay đang sống chung với chị T, sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc với ông Phạm Văn N ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ng H, ông Phạm Văn N trình bày:

Về hôn nhân: Ông và tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Giang Tây, huyện Ng H, tỉnh Cà Mau vào năm 2022. Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà T ông không đồng ý, lý do ông còn thương vợ, thương con và vợ chồng không có mâu thuẫn, cự cãi.

Về con chung: Ông N xác định có 01 người con chung tên Phạm Kim C, sinh ngày 28/7/2017, trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn ông N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do ông Phạm Văn N đang bị giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Năm Căn về tội đánh bạc nên ông không thể tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án được, ông vẫn bảo lưu quan điểm như đã trình bày.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Trương Thị T có mặt vẫn bảo lưu quan điểm theo đơn khởi kiện không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Trương Thị T khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Văn N, địa chỉ: Ấp Kại L, xã Tam Giang T, huyện Ng H, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ng H, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Anh Phạm Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên anh N vắng mặt với lý do đang bị tạm giam về hành vi “Đánh bạc”, có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị T và đề nghị không tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh N tại phiên tòa.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Thị T và anh Phạm Văn N chung sống tự nguyện với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/8/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Tam Giang T, huyện Ng H, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa chị T và anh N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tại phiên toà chị T kiên quyết yêu cầu xin ly hôn với anh Phạm Văn N với lý do là bất đồng quan điểm, thường hay cự cải, anh N không lo chăm sóc gia đình, tham gia tệ nạn xã hội và hiện đang bị tam giam về hành vi “Đánh bạc”. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngảy 25/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Ng H, tỉnh Cà Mau, anh Phạm Văn N trình bày: Anh thống nhất về thời gian kết hôn, không đồng ý ly hôn với chị T với nguyên nhân vợ chồng không có mâu thuẩn và thường xuyên cự cải như chị T trình bày, anh N không đồng ý ly hôn với chị T do còn thương vợ, con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc anh Phạm Văn N tham gia tệ nạn xã hội như lời trình bày của chị T là có căn cứ, hiện anh N đang bị tạm giam về hành vi “Đánh bạc”, chị T và anh N đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay, cho thấy mâu thuẩn giữa chị T và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, việc chị T yêu cầu xin ly hôn với anh N là có căn cứ pháp luật, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị T đối với anh Phạm Văn N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Trương Thị T và anh Phạm Văn N có 01 con chung tên Phạm Kim C, sinh Ngày 28/7/2017, hiện nay đang sống chung với chị T, sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản ghi ý kiến của anh N vào ngày 25/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Ng H thì anh N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Phạm Kim C hiện đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng sống chung với chị Trương Thị T. Ngoài ra, cháu Cương hiện đang sống chung với chị T đã ổn định về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, xét thấy tiếp tục giao cháu Phạm Kim C cho chị Trương Thị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Văn N, không trực tiếp nuôi con con nhưng vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc, không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Trương Thị T.

[4] Về chia tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.

[5] Về án phí: Chị Trương Thị T là nguyên đơn trong vụ án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 Ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị T đối với anh Phạm Văn N.

Về con chung: Giao cháu Phạm Kim C, sinh Ngày 28/7/2017 cho chị Trương Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Văn N, không trực tiếp nuôi con con nhưng vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc, không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Trương Thị T.

Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu T số 0015068 ngày 04/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ng H được chuyển thu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Ng H;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Ng H;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã Tam Giang Tâ, huyện Ng H;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn A Đam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG H, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG H, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trương Thị Tiền yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn Nuối
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger