Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HD

TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2024

(V/v Tranh chấp yêu cầu ly hôn

và nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD - TỈNH BL

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Thiện Phong và ông Danh On

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Hoàng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh BL.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HD xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị Y, sinh năm 1997

Địa chỉ: ấp V, xã NQ, huyện HD, tỉnh BL

Bị đơn: Anh Nguyễn Hiền Tr, sinh năm 1992

Địa chỉ: ấp V, xã NQ, huyện HD, tỉnh BL

(Chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tr vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2024, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trương Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị với anh Nguyễn Hiền Tr đi đến hôn nhân do quen biết, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NQ, huyện HD, tỉnh BL vào ngày 14/5/2015 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo chị Y trình bày: Do trong thời gian chung sống giữa vợ chồng chị Ph sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, vợ chồng chị đã sống ly thân hơn 01 năm, trong khoảng thời gian sống xa nhau chị và anh Tr không có liên lạc với nhau. Nay chị nhận thấy vợ chồng không còn khả năng tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hiền Tr.

1

Về con chung: Chị Trương Thị Y xác định vợ chồng chung sống có với nhau 02 người con chung tên Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 27/9/2015 và Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 18/11/2022. Hiện các con đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi các con và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Y xác định không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Hiền Tr: Mặc dù anh Tr đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án, nhưng anh Tr vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Nguyễn Hiền Tr theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa Ph biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Nguyễn Hiền Tr chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Y được ly hôn với anh Tr là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tiếp tục giao các con cho chị Y nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Hiền Tr có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc các con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Y xác định không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trương Thị Y phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở Ph biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị Y có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Hiền Tr. Anh Nguyễn Hiền Tr có địa chỉ cư trú tại huyện HD. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện HD.

Chị Trương Thị Y có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Y.

Anh Nguyễn Hiền Tr đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Tr vẫn vắng mặt mà không có lý do chính

2

đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Hiền Tr.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Y và anh Tr chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện. Quá trình chung sống chị Y và anh Tr có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NQ, huyện HD, tỉnh BL vào ngày 14/5/2015 và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của chị Y và anh Tr là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của chị Y đối với anh Tr thì Hội đồng đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị Y và anh Tr lại không làm được, mà còn Ph sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Chị Y xác định chị và anh Tr đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm. Trong thời gian qua cả chị Y và anh Tr đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện muốn hàn gắn lại với nhau, chị Y và anh Tr không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Chị Y xác định vợ chồng chị không còn khả năng tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng không còn, nếu Tòa án giải quyết không cho chị ly hôn với anh Tr thì chị cũng không thể tiếp tục chung sống với anh Tr được. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Y và anh Tr là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của chị Y và anh Tr đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh Tr là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về nuôi con chung: Từ lúc vợ chồng chị Y và anh Tr sống ly thân với nhau chị Y là người trực tiếp nuôi các con chung. Chị Y vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự Ph triển của các con sau này. Cháu Nguyễn Ngọc Trâm A có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị Y khi chị Y và anh Tr ly hôn, nguyện vọng của cháu Trâm A là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai đe dọa hay ép buộc. Cháu Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 18/11/2022, đến thời điểm xét xử chưa đủ 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giao các con chung cho chị Y được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Anh Nguyễn Hiền Tr được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc các con chung không ai được cản trở

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Y xác định không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trương Thị Y phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

3

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trương Thị Y đối với anh Nguyễn Hiền Tr; Xử cho chị Trương Thị Y được ly hôn với anh Nguyễn Hiền Tr.
  2. Về nuôi con chung: Giao 02 người con chung tên Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 27/9/2015 và Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 18/11/2022 cho chị Trương Thị Y nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    Anh Nguyễn Hiền Tr được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Y không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Y không đặt ra yêu cầu nên xem xét giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị Y phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số Y tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007686 ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện HD.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho Chị Trương Thị Y và anh Nguyễn Hiền Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BL;
  • - VKSND huyện HD;
  • - Chi cục THADS huyện HD;
  • - UBND xã NQ;
  • - Các đương sự;
  • Lưu HS vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Hồng Diễm

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD TỈNH BL về tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD TỈNH BL
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Yến yêu cầu ly hôn Nguyễn Hiền Triết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger