Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HNGĐ-PT

Ngày 16/7/2024

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thủy Tiên

Bà Đặng Thị Bích Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 tháng 7 năm 2024 và 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 “Tranh chấp về ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 0122/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh bị bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3223/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Huỳnh Anh Q, sinh năm 1986; Nơi cư trú: 1 N, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Bà Diệp Hoàng A, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Căn hộ OP1-13.07 Khu phức hợp Văn phòng, Thương mại, Dịch vụ, O, 1 Hồ N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn N4; Trụ sở: 130 – A Hồ N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Lầu G tòa nhà H, F N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1990 (Giấy ủy quyền số 01/2021/UQ.DD-NA ngày 13/1/2021)

Địa chỉ: F N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

  1. Công ty Cổ phần N4; Trụ sở: Lầu G, Tòa nhà H, F N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
  2. Bà Lâm Thúy T, sinh năm 1961; Nơi cư trú: Căn hộ OP1-11.08 Khu phức hợp Văn phòng, Thương mại, Dịch vụ, O, 1 Hồ N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
  3. Ngân hàng Thương mại cổ phần N5; Trụ sở: A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Anh P sinh năm 1983 (theo Giấy ủy quyền Số 7579/UQ-HCM-QLNS ngày 10/7/2024).

Địa chỉ: 1 C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt ngày 10/7/2024 vắng mặt ngày 16/7/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/11/2020 và trong quá trình giải quyết, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Phạm Huỳnh Anh Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2016 ngày 27/12/2016 tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay ông Anh Q nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không còn tin tưởng, yêu thương nhau. Do đó, ông A Q yêu cầu được ly hôn với bà Hoàng A.

Về con chung: Ông Anh Q và bà Hoàng A có 02 con chung là Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019. Ông Anh Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Danh Đăng đến khi thành niên và giao trẻ An Nhiên cho bà Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên. Ông Anh Q cấp dưỡng nuôi trẻ An Nhiên mỗi tháng 10.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Anh Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu bà Hoàng A cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp không được nuôi 02 con thì ông Anh Q giữ nguyên yêu cầu nuôi trẻ Danh Đ và giao trẻ An Nhiên cho bà Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Anh Q cấp dưỡng nuôi trẻ An Nhiên mỗi tháng 10.000.000 đồng, thực hiện vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/3/2024.

Về tài sản chung:

  • + Căn hộ OP1-13.07 tại Tầng A, khu P, O, 130 - A Hồ N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh trị giá 5.005.760.000 đồng. Ông A Q đồng ý giao cho bà Hoàng A sở hữu và bà Hoàng A hoàn lại cho ông A Q 1/2 giá trị căn hộ tương đương 2.502.880.000 đồng. Bà Hoàng A có trách nhiệm thanh toán 01% giá trị còn lại của căn hộ theo thỏa thuận trong hợp đồng.
  • + Xe ô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: ôtô con, màu sơn: cam, số máy: L15Z24465645, số khung: 5870KT041116, số loại: Jazz, biển số đăng ký: 51H-093.65 trị giá 416.000.000 đồng. Ông Anh Q yêu cầu được sở hữu xe và hoàn 1/2 giá trị xe tương đương 208.000.000 đồng cho bà Hoàng A.

Về nợ chung:

  • + Ngày 06/12/2018, bà Diệp Hoàng A và ông Phạm Huỳnh Anh Q có ký Hợp đồng vay từng lần trung dài hạn với Ngân hàng Thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh Thành phố H, với số tiền vay là 2.700.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay trên thì mẹ của bà Hoàng A là bà Lâm Thúy T đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 17, diện tích 33,6 m² tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số: 0155/1844/TC ngày 06/12/2018.

Bà Hoàng A đã thanh toán số tiền 603.840.000 đồng nợ gốc và 791.866.097 đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 06/3/2024 của khoản vay 2.700.000.000 đồng, nên ông A Q đồng ý thanh toán lại cho bà Hoàng A 1/2 số tiền gốc và lãi mà bà đã thanh toán, cụ thể:

603.840.000 đồng (gốc) + 791.866.097 đồng (lãi) = 1.395.706.097 đồng : 2 = 697.853.049 đồng.

Tiền gốc còn nợ lại là 2.096.160.000 đồng, ông Anh Q đồng ý thanh toán 1/2 số nợ gốc còn lại và tiếp tục thanh toán 1/2 tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ.

Ông Anh Q không yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 071738, số vào sổ cấp GCN số CH01120 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/5/2015 cho bà Lâm Thúy T.

  • + Về yêu cầu phản tố của bà Hoàng A đối với khoản nợ 350.000.000 đồng, ông A Q không đồng ý thanh toán vì đây không phải nợ chung trong thời kỳ hôn nhân.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Diệp Hoàng A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Diệp Hoàng A không đồng ý ly hôn với ông Phạm Huỳnh Anh Q. Trường hợp phải ly hôn theo quyết định của Tòa án thì bà Hoàng A có ý kiến như sau:

Về con chung: Bà Hoàng A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 trẻ Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019 đến khi thành niên. Bà Hoàng A yêu cầu ông Anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 20.000.000 triệu đồng.

Tại phiên tòa, bà Hoàng A không yêu cầu ông Anh Q cấp dưỡng nuôi con chung, vấn đề cấp dưỡng bà để cho ông Anh Q tự quyết định.

Về tài sản chung:

  • + Căn hộ OP1-13.07 tại Tầng A, khu P, O, 130 - A Hồ N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh trị giá 5.005.760.000 đồng. Bà Hoàng A yêu cầu sở hữu căn hộ này và hoàn lại cho ông A Q 1/2 giá trị căn hộ tương đương 2.502.880.000 đồng. Bà Hoàng A có trách nhiệm liên hệ chủ đầu tư thanh toán 01% còn lại giá trị căn hộ và liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoàn tất thủ tục pháp lý để sở hữu căn hộ trên.
  • + Xe ô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: ôtô con, màu sơn: cam, số máy: L15Z24465645, số khung: 5870KT041116, số loại: Jazz, biển số đăng ký: 51H-093.65 trị giá 416.000.000 đồng. Bà Hoàng A đồng ý giao xe cho ông A Q sở hữu và ông Anh Q hoàn lại cho bà Hoàng A 1/2 giá trị xe tương đương 208.000.000 đồng.

Về nợ chung:

  • + Bà Hoàng A thống nhất với trình bày của ông A Q về quá trình ký Hợp đồng tín dụng ngày 06/12/2018 đối với khoản nợ 2.700.000.000 đồng mà bà và ông đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh Thành phố H. Bà Hoàng A đã thanh toán 603.840.000 đồng nợ gốc và 791.866.097 đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 06/3/2024, bà Hoàng A yêu cầu ông A Q thanh toán 1/2 số tiền gốc và lãi mà bà đã thanh toán, cụ thể:

603.840.000 đồng (gốc) + 791.866.097 đồng (lãi) = 1.395.706.097 đồng : 2 = 697.853.049 đồng.

Tiền gốc còn nợ lại là 2.096.160.000 đồng, bà Hoàng A đồng ý thanh toán 1/2 số nợ gốc còn lại và tiếp tục thanh toán 1/2 tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ.

  • + Ngày 03/12/2018, bà Diệp Hoàng A và Ngân hàng Thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh Thành phố H có ký Hợp đồng vay số 0164/1844/D-TN/VCB với số tiền 350.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền trên, bà Hoàng A thanh toán mua căn hộ OP1-13.07 tại Tầng A Khu P, O, 130 - A Hồ N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và phục vụ nhu cầu thiết yếu cho gia đình. Do đó, yêu cầu ông A Q cùng trả vì đây là nợ chung trong thời kỳ hôn nhân. Do bà Hoàng A đã tất toán toàn bộ khoản vay gồm nợ gốc 350.000.000 đồng và lãi phát sinh 55.895.326 đồng, nên bà yêu cầu ông A Q thanh toán lại cho bà 1 khoản nợ trên, cụ thể:

350.000.000 đồng + 55.895.326 đồng = 405.895.326 đồng : 2 = 202.947.663 đồng.

Đối với yêu cầu độc lập của bà Lâm Thúy T về việc hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số: 0155/1844/TC ngày 06/12/2018, bà Hoàng A yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Thúy T. Bà Hoàng A không yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 071738, số vào sổ cấp GCN số CH01120 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/5/2015 cho bà Lâm Thúy T.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Cảnh T1 trình bày:

Ông Nguyễn Cảnh T1 thống nhất với toàn bộ ý kiến trình bày của bà Diệp Hoàng A và không bổ sung gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Hoàng A và ông A Q được đoàn tụ. Trường hợp buộc phải ly hôn theo quyết định của Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Hoàng A.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Hà Đức A1 vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thúy T trình bày:

Bà Lâm Thúy T thống nhất với trình bày của ông A1 Q và bà Hoàng A về quá trình ký Hợp đồng tín dụng ngày 06/12/2018 vay số tiền 2.700.000.000 đồng và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số: 0155/1844/TC ngày 06/12/2018 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 17, diện tích 33,6 m² tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Anh Q và bà Hoàng A ly hôn và yêu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến nợ chung, sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thúy T đối với tài sản thế chấp là nhà đất tại địa chỉ A N nêu trên. Do đó, bà Thúy T đề nghị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập và yêu cầu sửa đổi, bổ sung yêu cầu độc lập tuyên hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0155/1844/TC giữa bà Thúy T và Ngân hàng Thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh Thành phố H. Bà Thúy T yêu cầu Ngân hàng trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần N5, có ông Lê Công M là đại diện theo ủy quyền trình bày:

  • + Ngày 06/12/2018, Ngân hàng Thương mại cổ phần N5 – Chi nhánh Thành phố H (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với bà Diệp Hoàng A và ông Phạm Huỳnh Anh Q đã ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0159/1844/D-TN/CB2, số tiền vay 2.700.000.000 đồng, mục đích vay để thanh toán mua căn hộ OP1-13.07 tại Tầng A, khu P, O, 130 - A Hồ N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay là nhà đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 071738, số vào sổ cấp GCN số CH01120 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/5/2015 cho bà Thúy T (mẹ ruột của bà Hoàng A).

Bà Hoàng A đã thanh toán 603.840.000 đồng nợ gốc và 791.866.097 đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 06/3/2024, nợ gốc còn lại là 2.096.160.000 đồng.

  • + Ngày 03/12/2018, Ngân hàng và bà Diệp Hoàng A có ký Hợp đồng vay số 0164/1844/D-TN/VCB với số tiền 350.000.000 đồng. Bà Hoàng A đã tất toán khoản nợ trên vào ngày 02/01/2024, cụ thể đã thanh toán 350.000.000 đồng nợ gốc và 55.895.326 đồng tiền lãi.

Ngân hàng không có yêu cầu độc lập đối với khoản nợ chung của ông Anh Q và bà Hoàng A trong vụ án ly hôn trên. Do đó, Ngân hàng không có yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là nhà đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 071738, số vào sổ cấp GCN số CH01120 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/5/2015 cho bà Lâm Thúy T.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần N4 trình bày:

Công ty Cổ phần N4 (gọi tắt là Công ty N4) là đơn vị bao tiêu các sản phẩm bất động sản cho dự án Khu phức hợp văn phòng, thương mại, dịch vụ, officetel và căn hộ (tên thương mại: Orchard Parkview), tại địa chỉ 130 -A Hồ N, Phường I, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, với chủ đầu tư là Công ty Trách nhiệm hữu hạn N4. Hiện nay, trong các vấn đề liên quan đến căn hộ OP1-13.07 của dự án O, ông A Q và bà Hoàng A đều làm việc với chủ đầu tư là Công ty Trách nhiệm hữu hạn N4. Công ty N4 không còn quyền và nghĩa vụ liên quan. Do đó, việc tham gia của Công ty N4 không giúp làm rõ hay có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.

Công ty N4 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không có yêu cầu cần giải quyết trong vụ án trên. Do đó, Công ty N4 không tham gia tố tụng và xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Công ty Cổ phần N4 vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn N4 có bà Lê Thị Mỹ Đ1 và bà Nguyễn Thị Thùy L là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn N4 (gọi tắt là Công ty N4) là chủ đầu tư dự án Khu phức hợp văn phòng, thương mại, dịch vụ, officetel và căn hộ (tên thương mại: Orchard Parkview), tại địa chỉ 130 -A Hồ N, Phường 1, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty N4 và Công ty N4 đã ký kết hợp đồng bao tiêu các sản phẩm bất động sản của dự án.

Ngày 29/5/2018, Công ty N4 ký với Công ty N4 Hợp đồng bán căn hộ OP1-13.07 số OP1-13.07/2018/HDMB/NVNA-NVH. Ngày 09/6/2018, Công ty N4 thực hiện chuyển nhượng căn hộ này cho bà Phạm Thị Thanh N1 và ông Phạm Việt Dũng N2 thông qua Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ số OP1-13.07/VBCN/NVH-PTTN-PVDN. Ngày 12/12/2018, bà Thanh N1 và ông Dũng N2 thực hiện chuyển nhượng lại Hợp đồng mua bán căn hộ số OP1-13.07/VBCN/NVH-PTTN-PVDN nói trên cho ông Anh Q và bà Hoàng A thông qua Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán nhà ở thương mại.

Giữa Công ty N4 và bên bán bà Thanh N1, ông Dũng N2 với bên mua ông Anh Q, bà Hoàng A đã ký Biên bản thỏa thuận ba bên chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ mua bán căn hộ số OP1-13.07/CNHDMB-2018/NVNA-PTTN-PVDN-DHA-PHAQ ngày 12/12/2018. Theo hợp đồng, ông A Q và bà Hoàng A đã thanh toán số tiền 2.894.373.709 đồng đối với căn hộ trên.

Ngày 02/01/2019, Công ty N4 xác nhận Công ty N4 là bên bán và bà Thanh N1 - ông Dũng N2 là bên mua nhà ở theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: OP1-13.07/2018/HDMB/NVNA-NVH ngày 29/5/2018. Nay Công ty N4 xác nhận việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ giữa bà Thanh N1 - ông Dũng N2 và bà Hoàng A - ông Anh Q từ ngày ký xác nhận, Công ty N4 sẽ chấm dứt giao dịch với bà Thanh N1 - ông Dũng N2 và trực tiếp giao dịch với bên nhận chuyển nhượng hợp đồng là bà Hoàng A - ông Anh Q. Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng được quyền tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng mua bán căn hộ số OP1-13.07/2018/HDMB/NVNA-NVH và văn bản chuyên nhượng đã ký với Công ty N4.

Công ty N4 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Anh Q cũng như không có yêu cầu cần giải quyết trong vụ án trên. Do đó, Công ty N4 không tham gia tố tụng và xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 0122/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 264 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 59, 60, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 17 Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2022).

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A.
  2. Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019.

Giao trẻ Phạm Diệp Danh Đ cho ông Phạm Huỳnh Anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc ông Phạm Huỳnh Anh Q không yêu cầu bà Diệp Hoàng A cấp dưỡng nuôi con.

Giao trẻ Phạm An N cho bà Diệp Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Huỳnh Anh Q có trách nhiệm cấp dưỡng cho trẻ Phạm An N 10.000.000 (mười triệu đồng)/tháng, thực hiện vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/3/2024.

Quyền và nghĩa vụ của ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A đối với con chưa thành niên được pháp luật bảo đảm. Vì lợi ích của trẻ, việc trực tiếp nuôi con và đóng góp cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung:

Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

  • + Bà Diệp Hoàng A được sở hữu căn hộ OP1-13.07 tại Tầng A, khu P, O, 130 - A Hồ N, Phường 1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và hoàn lại cho ông Phạm Huỳnh Anh Q 1/2 giá trị căn hộ tương đương 2.502.880.000 (hai tỷ năm trăm lẻ hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng). Bà Diệp Hoàng A có trách nhiệm thanh toán 01 (một) % giá trị nhà còn lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn N4 căn cứ theo Hợp đồng mua bán căn hộ số OP1-13.07/2018/HDMB/NVNA-NVH ngày 29/5/2018; Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ số OP1-13.07/2018/VBCN/NVH-PTTN-PVDN ngày 09/6/2018; Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán nhà ở thương mại ngày 12/12/2018; Biên bản thỏa thuận ba bên chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ ngày 12/12/2018.

Ông Phạm Huỳnh Anh Q có trách nhiệm phối hợp cùng bà Diệp Hoàng A liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoàn tất thủ tục pháp lý để bà Diệp Hoàng A sở hữu căn hộ trên.

  • + Ông Phạm Huỳnh Anh Q được sở hữu xe ô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: ôtô con, màu sơn: cam, số máy: L15Z24465645, số khung: 5870KT041116, số loại: Jazz, biển số đăng ký: 51H-093.65 và hoàn lại cho bà Hoàng A 1/2 giá trị xe tương đương 208.000.000 (hai trăm lẻ tám triệu đồng).

Bà Diệp Hoàng A có trách nhiệm phối hợp cùng ông Phạm Huỳnh Anh Q liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoàn tất thủ tục pháp lý để ông Phạm Huỳnh Anh Q sở hữu xe ô tô trên.

4. Về nợ chung:

[4.1] Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N5 – Chi nhánh Thành phố H mỗi người 1/2 tiền nợ gốc còn lại 2.108.000.000 (hai tỷ một trăm lẻ tám triệu đồng). Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A đồng ý mỗi người tiếp tục thanh toán 1/2 tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0159/1844/D-TN/CB2 ngày 06/12/2018.

Bà Diệp Hoàng A đã thanh toán 603.840.000 đồng (gốc) + 791.866.097 đồng (lãi) = 1.395.706.097 đồng tạm tính đến ngày 06/3/2024. Bà Diệp Hoàng A và ông Phạm Huỳnh Anh Q thống nhất mỗi người chịu 1/2 số tiền gốc và lãi mà bà Diệp Hoàng A đã thanh toán. Do đó, ông Phạm Huỳnh Anh Q có trách nhiệm hoàn lại cho bà D Hoàng A là:

603.840.000 đồng (gốc) + 791.866.097 đồng (lãi) = 1.395.706.097 đồng : 2 = 697.853.049 (sáu trăm chín mươi bảy triệu tám trăm năm mươi ba nghìn không trăm bốn mươi chín đồng).

Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A không yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đã được bà Lâm Thúy T ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số: 0155/1844/TC ngày 06/12/2018 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 071738, số vào sổ cấp GCN số CH01120 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/5/2015 cho bà Lâm Thúy T.

[4.2] Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Diệp Hoàng A buộc ông Phạm Huỳnh Anh Q thanh toán 1/2 nợ chung là 350.000.000 đồng (gốc) + 55.895.326 đồng (lãi) = 405.895.326 đồng : 2 = 202.947.663 (hai trăm lẻ hai triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng).

5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lâm Thúy T về việc tuyên hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0155/1844/TC ngày 06/12/2018 giữa bà Lâm Thúy T với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 - Chi nhánh Thành phố H và yêu cầu Ngân hàng trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Thúy T.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 15/3/2024 bị đơn bà Diệp Hoàng A kháng cáo một phần bản án sơ thẩm: Về việc nuôi con: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019, bà không yêu cầu ông Phạm Huỳnh Anh Q cấp dưỡng nuôi con; Về khoản nợ chung 350.000.000đ: Bà yêu cầu ông Q thanh toán ½ bao gồm nợ gốc và lãi là 202.947.663 (hai trăm lẻ hai triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Phạm Huỳnh Anh Q đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc nuôi con.

Bị đơn bà Diệp Hoàng A giữ nguyên kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con.

Về khoản nợ chung 350.000.000 đồng: Bà Diệp Hoàng A và ông Phạm Huỳnh Anh Q thống nhất thỏa thuận: Ông Phạm Huỳnh Anh Q hoàn trả cho bà Diệp Hoàng A 1/2 khoản nợ trên bao gồm cả gốc và lãi tổng cộng là 202.947.663 (hai trăm lẻ hai triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng).

Ngân hàng V1 trình bày: Đối với khoản vay 350.000.000đ bà Diệp Hoàng A đã thanh toán hết khoản nợ trên, đã tất toán toàn bộ 350.000.000 đồng nợ gốc và 55.895.326 đồng tiền lãi vào ngày 02/01/2024 nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đối với khoản nợ 2.700.000.000 đồng (hai tỷ bảy trăm triệu đồng) các đương sự thống nhất xác định nợ gốc còn lại tính đến thời điểm tháng 03/2024 là 2.096.160.000 đồng (hai tỷ không trăm chín mươi sáu triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Diệp Hoàng A trong thời hạn luật định.

Về nội dung: Tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết đối với khoản nợ chung 350.000.000đ nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

Về việc nuôi con: Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A đều có điều kiện, nguyện vọng nuôi con. Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ là ngang nhau. Tòa án cấp sơ thẩm giao con Phạm Diệp Danh Đ cho ông Phạm Huỳnh Anh Q nuôi, giao con Phạm An N cho bà Diệp Hoàng Anh N3 là có cơ sở, phù hợp.

Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bà Diệp Hoàng A, giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc nuôi con.

Đối với khoản nợ 2.700.000.000 đồng ( hai tỷ bảy trăm triệu đồng) các đương sự thống nhất xác định nợ gốc còn lại tính đến thời điểm tháng 03/2024 là 2.096.160.000 đồng (hai tỷ không trăm chín mươi sáu triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng quyết định của bản án sơ thẩm ghi 2.108.000.000 đồng (hai tỷ một trăm lẻ tám triệu đồng) là không đúng, nên đề nghị Tòa án phúc thẩm điều chỉnh lại cho chính xác

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Đơn kháng cáo của bị đơn bà Diệp Hoàng A làm trong thời hạn quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà A, yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019:
  3. Ông Q và bà A có hai con chung là Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019. Tòa án cấp sơ thẩm giao ông Phạm Huỳnh Anh Q trực tiếp nuôi con Phạm Diệp Danh Đ, giao bà Diệp Hoàng A trực tiếp nuôi con Phạm An N. Không có kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giao bà A trực tiếp nuôi con Phạm An N. Bà A kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con Phạm Diệp Danh Đ và Phạm An N.

Căn cứ vào Hợp đồng lao động, B kê xác nhận thu phập Cán bộ của Ngân hàng V1 bà A có thu nhập bình quân sau thuế 48.485.465đ/tháng; Căn cứ Hợp đồng lao động của Tổng công ty H1 ông Q có thu nhập 16.000.000đ/tháng, Hợp đồng mua bán căn hộ OP1-13.07/CNHDMB-2018/NVNA-PTTN-PVDN-DHA-PHAQ lập vào ngày 12/12/2018 và các giấy tờ, tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ có cơ sở để xác định ông Q và bà A đều có điều kiện, khả năng về vật chất, thu nhập, chỗ ở, trình độ, năng lực, đạo đức để nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục con.

Tuy nhiên, ông Q và bà A không sống chung với nhau từ năm 2020 đến nay, bà A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con từ khi các con được sinh ra cho đến nay. Các con sống với bà A tại căn hộ thuộc sở hữu của bà A sau khi phân chia tài sản chung. Theo xác nhận của địa phương, trường học nơi con cư trú, học tập, các giấy khen, hình ảnh về học tập, hoạt động sinh hoạt của trẻ Đ, các file tin nhắn trao đổi giữa ông Q và bà A về việc thăm nom, chăm sóc con thể hiện trẻ Đ có kết quả học tập xuất sắc tại trường tiểu học; học ngoại khóa, ngoại ngữ, thể thao, năng khiếu đều đạt kết quả tốt, trẻ được tham gia các hoạt động, sinh hoạt, vui chơi phù hợp với lứa tuổi trẻ em. Trẻ sống với tinh thần vui vẻ, hồn nhiên, năng động, hòa đồng có tình cảm gắn bó thân thiết với mẹ và em đang sống cùng. Đồng thời, trẻ Đ cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với mẹ và em với lý do sống với mẹ và em trẻ vui và vì trẻ được mẹ nuôi dưỡng từ nhỏ. Các kết quả nêu trên thể hiện, trẻ Đ được mẹ là bà A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, phát triển tốt về thể chất, tinh thần, trí tuệ, bảo đảm quyền của trẻ được duy trì mối quan hệ với cha, được sự thăm nom, chăm sóc thường xuyên của ông bà nội.

Theo lời khai của ông Q thì do trẻ Đăng thường né tránh, im lặng, không trả lời khi ông hỏi về nơi học tập của trẻ nên ông không nắm rõ việc học tập của con. Do ông phải thực hiện nhiệm vụ bay công tác chở V – xin và do bà A cũng không tạo điều kiện nên ông không thường xuyên thăm nom con, nhưng ông Q không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh việc bà A đã cản trở ông thăm nom con. Ông Q xác nhận ông bà nội thường xuyên đến thăm nom các cháu.

Để bảo đảm nguyện vọng, sự ổn định tâm lý và tình cảm của con, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, chấp nhận yêu cầu của bà A, giao bà A trực tiếp nuôi hai con Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019. Ghi nhận bà A không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

  1. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà A yêu cầu ông Q trả 1/2 khoản nợ vay 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng):

Ông Q và bà A thống nhất thỏa thuận, ông Q hoàn trả cho bà A 1/2 khoản nợ nêu trên bao gồm nợ gốc và lãi tổng cộng là 202.947.663 đồng (hai trăm lẻ hai triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng). Nội dung thỏa thuận các đương sự là tự nguyện, không trái với pháp luật, đạo đức xã hội nên được ghi nhận.

  1. Đối với khoản nợ 2.700.000.000 đồng (hai tỷ bảy trăm triệu đồng) không có kháng cáo kháng nghị, tuy nhiên các đương sự thống nhất xác định nợ gốc còn lại tính đến thời điểm tháng 03/2024 là 2.096.160.000 đồng (hai tỷ không trăm chín mươi sáu triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng quyết định của bản án sơ thẩm ghi 2.108.000.000 đồng (hai tỷ một trăm lẻ tám triệu đồng) là không chính xác, nên cần phải điều chỉnh lại.

Do đó, chấp nhận kháng cáo của bà A, sửa bản án sơ thẩm.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Diệp Hoàng A không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 264 và Điều 273, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự:

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 59, 60, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bà Diệp Hoàng A, sửa bản án sơ thẩm:
  • - Về hôn nhân: Ông Phạm Huỳnh Anh Q được ly hôn bà Diệp Hoàng A.
  • - Về việc nuôi con: Giao bà Diệp Hoàng A trực tiếp nuôi con Phạm Diệp Danh Đ, sinh ngày 31/8/2017 và Phạm An N, sinh ngày 14/10/2019. Ghi nhận bà Diệp Hoàng A không yêu cầu ông Phạm Huỳnh Anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  1. Về tài sản chung:

Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

  • + Bà Diệp Hoàng A được sở hữu căn hộ OP1-13.07 tại Tầng A, khu P, O, 130 - A Hồ N, Phường 1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và hoàn lại cho ông Phạm Huỳnh Anh Q 1/2 giá trị căn hộ tương đương 2.502.880.000đ (hai tỷ năm trăm lẻ hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng). Bà Diệp Hoàng A có trách nhiệm thanh toán 01 (một) % giá trị nhà còn lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn N4 căn cứ theo Hợp đồng mua bán căn hộ số OP1-13.07/2018/HDMB/NVNA-NVH ngày 29/5/2018; Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ số OP1-13.07/2018/VBCN/NVH-PTTN-PVDN ngày 09/6/2018; Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán nhà ở thương mại ngày 12/12/2018; Biên bản thỏa thuận ba bên chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ ngày 12/12/2018.

Ông Phạm Huỳnh Anh Q có trách nhiệm phối hợp cùng bà Diệp Hoàng A liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoàn tất thủ tục pháp lý để bà Diệp Hoàng A sở hữu căn hộ trên.

  • + Ông Phạm Huỳnh Anh Q được sở hữu xe ô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: ôtô con, màu sơn: cam, số máy: L15Z24465645, số khung: 5870KT041116, số loại: Jazz, biển số đăng ký: 51H-093.65 và hoàn lại cho bà Hoàng A 1/2 giá trị xe tương đương 208.000.000đ (hai trăm lẻ tám triệu đồng).

Bà Diệp Hoàng A có trách nhiệm phối hợp cùng ông Phạm Huỳnh Anh Q liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoàn tất thủ tục pháp lý để ông Phạm Huỳnh Anh Q sở hữu xe ô tô trên.

  1. Về nợ chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N5 – Chi nhánh Thành phố H mỗi người ½ (một phần hai) tiền nợ gốc còn lại 2.096.160.000đ (hai tỷ không trăm chín mươi sáu triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A đồng ý mỗi người tiếp tục thanh toán 1/2 tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0159/1844/D-TN/CB2 ngày 06/12/2018.

Bà Diệp Hoàng A đã thanh toán 603.840.000 đồng (gốc) + 791.866.097 đồng (lãi) = 1.395.706.097 đồng tạm tính đến ngày 06/3/2024. Bà Diệp Hoàng A và ông Phạm Huỳnh Anh Q thống nhất mỗi người chịu 1/2 số tiền gốc và lãi mà bà Diệp Hoàng A đã thanh toán. Do đó, ông Phạm Huỳnh Anh Q có trách nhiệm hoàn trả cho bà Diệp Hoàng A: 697.853.049₫ [(sáu trăm chín mươi bảy triệu tám trăm năm mươi ba nghìn không trăm bốn mươi chín đồng) ( 603.840.000 đồng (gốc) + 791.866.097 đồng (lãi) = 1.395.706.097 đồng : 2 = 697.853.049₫)]

Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A không yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đã được bà Lâm Thúy T ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số: 0155/1844/TC ngày 06/12/2018 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 071738, số vào sổ cấp GCN CH01120 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/5/2015 cho bà Lâm Thúy T.

Ông Phạm Huỳnh Anh Q phải hoàn trả cho bà Diệp Hoàng A 202.947.663₫ [(hai trăm lẻ hai triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng) (là 1/2 khoản nợ chung 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng) bao gồm nợ gốc và lãi)].

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ông Phạm Huỳnh Anh Q đối với khoản tiền mà bà Diệp Hoàng A phải hoàn trả cho ông Phạm Huỳnh Anh Q cho đến khi thi hành xong bà Diệp Hoàng A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Diệp Hoàng A đối với khoản tiền mà ông Phạm Huỳnh Anh Q phải hoàn trả cho bà Diệp Hoàng A cho đến khi thi hành xong ông Phạm Huỳnh Anh Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lâm Thúy T về việc tuyên hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0155/1844/TC ngày 06/12/2018 giữa bà Lâm Thúy T với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 - Chi nhánh Thành phố H và yêu cầu Ngân hàng trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lâm Thúy T.
  1. Về án phí, chi phí tố tụng.

5.1 Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Án phí ly hôn: Ông Phạm Huỳnh Anh Q phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0049806 ngày 03/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; ông Q đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  • - Án phí chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung

Ông Phạm Huỳnh Anh Q phải chịu 160.742.974đ (một trăm sáu mươi triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn chín trăm bảy mươi bốn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 30.750.000đ (ba mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0049807 ngày 03/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phạm Huỳnh Anh Q còn phải nộp 129.992.974₫ (một trăm hai mươi chín triệu chín trăm chín mươi hai nghìn chín trăm bảy mươi bốn đồng).

Bà Diệp Hoàng A phải chịu 129.660.000đ (một trăm hai mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 56.112.500đ (năm mươi sáu triệu một trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0022237 ngày 28/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Diệp Hoàng A còn phải nộp 73.547.500đ (bảy mươi ba triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

  • - Về chi phí tố tụng:

Ông Phạm Huỳnh Anh Q đã nộp ứng 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng), bà Diệp Hoàng A đã nộp tạm ứng 5.000.000đ (năm triệu đồng). Ông Phạm Huỳnh Anh Q và bà Diệp Hoàng A mỗi người phải chịu 1/2 phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá, chi phí thẩm định giá, do đó bà Diệp Hoàng A có trách nhiệm hoàn lại cho ông Phạm Huỳnh Anh Q là 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng).

5.2 Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Diệp Hoàng A không phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Hoàn trả cho bà Diệp Hoàng A số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0032292 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án ; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND, VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKS, TA, THA quận Phú Nhuận;
  • - UBND Phường 5, Quận 10;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (T/25)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Minh

2024HNPT37100

1000125 2722 13

Phạm Huỳnh Anh Quang

20.06.2024 11:11

15

Hỏi Anh: Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326

e) Trường hợp các đương sự có tranh chấp về việc chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng, Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự thống nhất thỏa thuận được về việc phân chia một số tài sản chung và nghĩa vụ về tai sản chung, còn một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung không thỏa thuận được thì các đương sự vẫn phải chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng.

Đối với khoản nợ 2.700.000.000₫

Sơ thẩm tính: (trang 12 bản án sơ thẩm)

Về khoản nợ 2.700.000.000 đồng:

Nợ gốc còn lại: 2.096.160.000 đồng (3);

Nợ gốc đã trả: 603.840.000 đồng + nợ lãi đã trả: 791.866.097 đồng = 1.395.706.097 đồng (4);

(3) + (4) = 2.096.160.000 đồng + 1.395.706.097 đồng = 3.491.866.097 đồng : 2 = 1.745.933.049 đồng.

Ông A Q và bà Hoàng A mỗi người phải chịu án phí đối với số tiền 1.745.933.049 đồng nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng là 64.377.991 đồng.

Hỏi A2

: Có trừ cho bà Hoàng A chỉ tính án phí đối với 2.096.160.000 đồng (nợ gốc còn lại 2.096.160.000 đồng:2 = 1.048.080.000đ) vì bà Hoàng A đã trả khoản nợ gốc và lãi đã trả: Nợ gốc đã trả: 603.840.000 đồng + nợ lãi đã trả: 791.866.097 đồng = 1.395.706.097 đồng.

Nếu chỉ tính án phí 1.048.080.000đ thì bà Hoàng A chỉ phải chịu 43.442.400 đồng.

Dự thảo S lại => Sếp quyết định

Bà Diệp Hoàng A phải chịu án phí 129.660.000 (một trăm hai mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 56.112.500 (năm mươi sáu triệu một trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0022237 ngày 28/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Diệp Hoàng A còn phải nộp 73.574.500 (bảy mươi ba triệu năm trăm bảy mươi tư nghìn năm trăm đồng).

16

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /2024/HNPT

Thành phố H, ngày 15 tháng 5 năm 2024.

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào lúc, 09 giờ 50 ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh M1

Các Thẩm phán:

1. Bà Hoàng Thị Bích D1.

2. Bà Nguyễn Hoàng A3.

Tiến hành nghị án vụ án vụ án thụ lý số vụ án thụ lý số 31/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 “Tranh chấp về ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1662/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2009/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim P1, sinh năm 1967; địa chỉ cư trú: Số A Đường số A, Lê Đức Thọ P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Đào Quang A4, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Số F P, Phường A, quận G, Tp. (có mặt).

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

I. Quan hệ pháp luật cần giải quyết:

Căn cứ Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Tranh chấp ly hôn”.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

II. Điều luật áp dụng:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

III. Tuyên xử:

1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm:

  • - Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P1 được ly hôn ông Đào Quang A4.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng biểu quyết thống nhất.

  • - Về việc nuôi con: Giao bà Bùi Thị Kim P1 trực tiếp nuôi con Đào Anh Hoàng L1, sinh ngày 08/02/2009, giới tính nam.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận bà Bùi Thị Kim P1 tự nguyện không yêu cầu ông Đào Quang A4 cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng biểu quyết thống nhất.

2. Về án phí

  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Kim P1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Phước đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai tạm ứng án phí số AA/2023/0012150 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phước đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào Quang A4 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông A4 đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai tạm ứng án phí số AA/2023/0013276 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông A4 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng biểu quyết thống nhất.

18

V. Hiệu lực của bán án và các vấn đề khác

Căn cứ khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng biểu quyết thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THẨM PHÁN

Nguyễn Hoàng Anh Hoàng Thị Bích D1

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh M1

19

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HNGĐ-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 81/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh Chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger