Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/DS-ST

Ngày: 20-9-2024

v/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2022/DS-ST ngày 29 tháng 07 năm 2022 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2024/QĐ-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Đức T - Sinh năm: 1964. Địa chỉ: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn H - Sinh năm: 1976. Địa chỉ: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Nguyễn Thị Kim T1 - Sinh năm: 1977 (Có mặt).
    • Anh Hồ Đắc H1 - Sinh năm: 2003 (Vắng mặt).
    • Cùng địa chỉ: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
    • Phạm Thị Lệ T2 - Sinh năm: 1949 (Có mặt).
    • Nguyễn Thị Ngọc Q - Sinh năm: 1984 (Có mặt, vắng mặt khi Toà án tuyên án).
    • Cùng địa chỉ: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2022, ngày 13/7/2022, đơn trình bày và kiến nghị không đề ngày đề tháng 4 năm 2023, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 18/6/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Đức T trình bày:

Năm 2016, ông có nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn D và bà Trần Thị Kim Q1 01 lô đất tại thửa đất số 258 tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay là: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) (sau đây gọi tắt là thửa đất số 258) (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA498831 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 25/4/2016, đã đăng ký chỉnh lý biến động ngày 23/5/2016 cho ông Lê Đức T). Quá trình sử dụng đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ranh giới hướng Bắc khu đất (giáp lô đất tọa lạc tại địa chỉ: Số A đường L thuộc quyền sử dụng của ông H) cách mép đường là 30 m, tuy nhiên, thực tế thì ranh giới này hiện ông đang sử dụng cách mép đường là 29,4 m, phần diện tích đất còn lại ông H đang lấn chiếm và sử dụng có diện tích là 0,6 m x 4 m = 2,4 m², có tứ cận như sau: Hướng Bắc: giáp nhà ông H; H: giáp nhà ông (ông T); H: giáp nhà 196 đường L; Hướng T: giáp nhà ông H. Ông đã đề nghị UBND phường H giải quyết hòa giải giữa hai bên nhưng không thành. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Tấn H trả lại diện tích đất lấn chiếm là 0,6 m x 4 m = 2,4 m² cho ông, hiện ông H đang che mái tôn trên phần đất lấn chiếm.

Sau khi có kết quả đo đạc của Trung tâm K, ông T bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Tấn H phải trả cho ông tổng diện tích là 2,974 m², theo bề ngang 4m và chiều sâu là 0,744m; đảm bảo vỉa hè là 5m theo như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA498831 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 25/4/2016, đăng ký chỉnh lý biến động ngày 23/5/2016 cho ông Lê Đức T và Giấy phép xây dựng do Nhà nước cấp cho ông.

Ngày 19/6/2024, ông T tiếp tục có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, theo đó, ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại cho ông tổng diện tích là 3,062 m², theo bề ngang 4m và chiều sâu là 0,766m, có tứ cận như sau: Hướng Bắc và Tây giáp đất ông H, hướng Đông giáp nhà số A đường L và hướng Nam giáp nhà ông T, hiện ông H đang che mái tôn trên phần đất lấn chiếm.

Tại phiên toà, ông đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại cho ông tổng diện tích là 3,062 m², theo bề ngang 4m và chiều sâu là 0,766m, có tứ cận như sau: Hướng Bắc và Tây giáp đất ông H, hướng Đông giáp nhà số A đường L và hướng Nam giáp nhà ông T và tháo dỡ phần mái tôn, nền gạch xi măng trên phần đất lấn chiếm.

* Tại bản ý kiến không đề ngày tháng năm, bản ý kiến về việc phản hồi thông báo số 111B/TB-TLVA đề ngày 01/7/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Nguyễn Tấn H trình bày:

Ông được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 159, tờ bản đồ số 28, diện tích 336,4 m², tại địa chỉ số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Sau đây gọi tắt là thửa đất số 159) (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU962147 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 06/3/2020). Sau đó ông có tặng cho ½ nhà đất cho vợ ông là bà Nguyễn Thị Ngọc Q và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C đăng ký chỉnh lý biến động theo quy định vào ngày 20/5/2020. Thửa đất số 159 hiện nay của ông đang sử dụng và thửa đất số 258 của ông Lê Đức T có nguồn gốc ban đầu là của mẹ ông là bà Phạm Thị Lệ T2. Năm 2016, mẹ ông có chuyển nhượng cho một người (ông không rõ nhân thân lai lịch), một thời gian thì ông được biết ông T nhận chuyển nhượng thửa đất số 258. Năm 2016, mẹ ông tặng cho ông thửa đất số 159 và ông xây dựng nhà trên đó. Khoảng năm 2019, ông T xây dựng nhà trên thửa đất số 258. Khi ông T làm nhà xong, một thời gian ông có che tạm mái tôn phía sau để bỏ các vật dụng linh tinh. Khoảng năm 2022, UBND phường H có gọi ông và nói ông có tranh chấp lấn chiếm diện tích đất đối với ông Lê Đức T, ông khá bất ngờ với sự việc này, ông không hiểu tranh chấp về việc gì trong khi hai bên chưa có khi nào ngồi lại nói chuyện với nhau, diện tích đất của ông khá nhiều, ông cũng không có lấn chiếm phần diện tích đất mà ông T trình bày là 0,6 m x 4 m = 2,4 m². Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T, diện tích ông T được sử dụng là 101,4 m², tuy nhiên theo các cạnh thì là (25 x 4) m² = 100 m² thì phần diện tích chênh lệch 1,4 m² có nguồn gốc như thế nào.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T buộc ông trả lại phần diện tích đất 2,974 m² và hiện nay, ông T thay đổi yêu cầu buộc vợ chồng ông trả lại phần diện tích 3,062 m² thì ông T căn cứ vào cơ sở nào.

Về vỉa hè: theo phân cấp của đường 10,5 m thì vỉa hè quy định là 5 m. Tuy nhiên, đoạn đường L vào khoảng năm 2010, Nhà nước giải tỏa mở rộng đường theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm gia đình ông bị thu hồi 33,6 m², hiện nay hiện trạng sử dụng thực tế như kết quả đo đạc.

Đối với sơ đồ ngày 25/5/2024 của Trung tâm K, ông có ý kiến như sau: Theo kết quả đo ứng với các kích thước nếu vỉa hè 5 m là đúng quy định thì có nghĩa hiện tại đang xây lấn vỉa hè là 0,36 m (5-4,64 m hiện trạng vỉa hè). Kích thước đo nhà ông T: 4,56+20,34 + 0,59 (phần yêu cầu trả) = 25,49 m. Vậy 25,49-0,36= 25,13 m vượt 0,13 m so với kích thước trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 25 m, như vậy có đúng không. Ông không có yêu cầu đề nghị Toà án trưng cầu đo đạc lại.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông có ý kiến như sau: Ông không có tranh chấp hay lấn chiếm gì về diện tích đất như theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Là hàng xóm láng giềng mọi việc gặp nhau trao đổi thỏa thuận trước, ông T cứ thực hiện việc đo đạc thiếu đủ diện tích thì theo kết quả đo đạc mà thực hiện. Việc ông xây dựng nhà thì cán bộ địa chính đã cắm mốc và ông xây dựng theo vị trí mốc giới. Nguyên đơn lấy đủ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn có kích thước chiều dài 25 m và chiều rộng 4 m, cụ thể:

- Nếu hiện trạng theo kết quả đo đạc ngày 29/3/2023 thì phần diện tích ông T là chiều dài 0,1 m x chiều rộng 4 m = 0,4 m². Có vị trí tứ cận như sau: Hướng Nam: giáp đường L, hướng Bắc giáp nhà ông (số A đường L), hướng Đông giáp số nhà: 196A đường L (nhà ông Lê Đức T), hướng Tây giáp giáp nhà ông (số A đường L).

- Nếu hiện trạng vỉa hè đúng 5 m thì phần diện tích ông T là chiều dài 0,46 m (0,34 + 0,1) x chiều rộng 4 m = 1,84 m² Có vị trí tứ cận như sau: Hướng Nam: giáp đường L, hướng Bắc giáp nhà ông (số A đường L), hướng Đông giáp số nhà: 196A đường L (nhà ông Lê Đức T), hướng Tây giáp nhà ông (số A đường L).

Tại phiên toà, ông H trình bày ông đã tham khảo và hỏi cơ quan chuyên môn, thì đúng quy định là vỉa hè 5m. Do đó, ông đồng ý giao lại cho ông T phần diện tích đất 1,84 m², có chiều dài là 0,46 m (0,34+0,1m) x chiều rộng là 4 m và tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trên phần diện tích đó.

* Tại phiên toà, người có quyền lợi, liên quan bà Nguyễn Thị Kim T1 trình bày: Bà thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của chồng bà là ông Lê Đức T.

* Tại phiên toà, người có quyền lợi, liên quan bà Phạm Thị Lệ T2 trình bày: Bà thống nhất với ý kiến trình bày của con trai bà là ông Nguyễn Tấn H.

* Tại phiên toà, người có quyền lợi, liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Q trình bày: Bà thống nhất với ý kiến trình bày của chồng bà là ông Nguyễn Tấn H. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T, bà đồng ý giao lại cho ông T phần diện tích đất 1,84 m², có chiều dài là 0,46 m (0,34+0,1m) x chiều rộng là 4 m và tháo dỡ phần mái tôn trên phần diện tích đó.

* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Đắc H1: Mặc dù anh Hồ Đắc H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Hồ Đắc H1 vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70,72,73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ một phần nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại cho ông Lê Đức T phần đất lấn chiếm có diện tích 2,9 m² và tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trên diện tích đất đó, có tứ cận như sau: Hướng Đông giáp nhà số A đường L, hướng Tây giáp nhà ông H, hướng Nam giáp nhà ông T, hướng Bắc giáp nhà ông H. Không chấp nhận một phần yêu khởi kiện của ông T đối với phần diện tích đất 0,162 m². Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Tấn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại phần diện tích đất bị lấn chiếm quyền sử dụng đất tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng và tháo dỡ công trình xây dựng trên phần diện tích đất lấn chiếm. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
  2. [2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hồ Đắc H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Hồ Đắc H1.
  3. [3] Theo đơn khởi kiện ông T yêu cầu ông H trả lại phần diện tích 2,4 m². Sau đó, ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện từ buộc ông H trả lại phần diện tích lấn chiếm từ 2,4 m² lên 2,974 m² và ngày 18/6/2024, ông T tiếp tục có đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, ông T yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại phần diện tích đất 3,062 m² và tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trên diện tích đất 3,062 m² . Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông T là phù hợp. Toà án đã thực hiện thủ tục thông báo thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tiến hành các thủ tục tố tụng xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại cho ông Lê Đức T tổng diện tích đất là 3,062 m², theo bề ngang 4m và chiều sâu là 0,766m, và tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trên diện tích đất 3,062 m², có tứ cận như sau: hướng Bắc và Tây giáp đất ông H, hướng Đông giáp nhà số A đường L và hướng Nam giáp nhà ông T.

  1. [3] Về nguồn gốc sử dụng đất:
    • [3.1] Về nguồn gốc sử dụng đất của ông Lê Đức T:
    • Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C cung cấp gồm: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 24/3/2016 giữa bà Phạm Thị Lệ T2 và ông Huỳnh Văn D, bà Trần Thị Kim Q1 do Văn phòng C công chứng số 1402, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/3/2016; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 21/5/2016 giữa ông Lê Đức T và ông Huỳnh Văn D, bà Trần Thị Kim Q1 do Văn phòng C1, quyển số/CC-SCC/HĐGD ngày 24/3/2016 thể hiện: Ngày 24/3/2016, ông Huỳnh Văn D, bà Trần Thị Kim Q1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị Lệ T2 đối với thửa đất số 258 tờ bản đồ số 11 diện tích 101,4 m² tại: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Có Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA 504638 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/8/2015 cho bà Phạm Thị Lệ T2). Ông Huỳnh Văn D, bà Trần Thị Kim Q1 thực hiện việc chỉnh lý biến động, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA498831 ngày 25/4/2016, thông tin thửa đất không thay đổi. Sau đó, ông Huỳnh Văn D, bà Trần Thị Kim Q1 chuyển nhượng thửa đất số 258 nêu trên cho ông Lê Đức T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 công chứng ngày 21/5/2016. Ông Lê Đức T đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C chỉnh lý biến động ngày 23/5/2016. Như vậy, HĐXX có cơ sở xác định lô đất thuộc thửa đất số 258, tờ bản đồ số 11, có diện tích 101,4 m², mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị; toạ lạc tại địa chỉ: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, nay là: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, là thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Lê Đức T.
    • [3.2] Về nguồn gốc sử dụng đất của ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q:
    • Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C cung cấp gồm: Đơn đề nghị tách thửa, hợp thửa đất đề ngày 12/11/2015 của bà Phạm Thị Lệ T2 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C xác nhận ngày 09/12/2015; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Lệ T2 và ông Nguyễn Tấn H do Phòng công chứng số 02 thành phố Đà Nẵng công chứng ngày 10/12/2015 số công chứng 15600TP/CC-SCC/HĐGD, kèm sơ đồ tách thửa để tặng cho quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA504638 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 31/8/2015 cho bà Phạm Thị Lệ T2; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC823797 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/01/2016 cho ông Nguyễn Tấn H; Hợp đồng tặng cho ½ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất giữa ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q do Phòng C2 ngày 31/03/2020 số công chứng quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU962147 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 06/3/2020, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C chỉnh lý biến động tặng cho ½ nhà và đất cho bà Nguyễn Thị Ngọc Q đã thể hiện:
    • Năm 2015, bà Phạm Thị Lệ T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 11, diện tích 437,8 m² (366,4 m² đất ở và 71,4 m² đất CHNK), địa chỉ thửa đất: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, bà T2 đề nghị tách thửa đất nêu trên thêm 01 thửa có diện tích 336,4m² (265,0 m² đất ở và 71,04 m² đất CHNK) để tặng cho con ruột là ông Nguyễn Tấn H. Ông Nguyễn Tấn H thực hiện việc chỉnh lý biến động, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC823797 ngày 11/01/2016, theo đó thông tin thửa đất thay đổi thành thửa đất số 1892, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, diện tích 336,4 m² (đất ở: 265 m², đất trồng cây hằng năm khác 71,4 m²) và chưa có thông tin ghi nhận quyền sở hữu nhà ở. Sau đó, ông Nguyễn Tấn H thực hiện chỉnh lý ghi nhận quyền sở hữu đối với nhà ở và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 962147 ngày 06/3/2020, theo đó thửa đất số 1892, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng thay đổi thành thửa đất số 159, tờ bản đồ số 28, địa chỉ: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, diện tích 336,4 m² (đất ở: 265 m², đất trồng cây hằng năm 71,4 m²) và nhà ở là nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 91,2 m², diện tích sàn 257,7m², cấp III. Ông Nguyễn Tấn H tặng cho ½ diện tích nhà và đất cho vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc Q và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C chỉnh lý biến động vào ngày 20/5/2020. Như vậy, HĐXX có cơ sở xác định lô đất thuộc thửa đất số 159, tờ bản đồ số 28, địa chỉ: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, diện tích 336, 4 m² (đất ở: 265 m², đất trồng cây hằng năm 71,4 m²) và nhà ở là nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 91,2 m², diện tích sàn 257,7m², cấp III là thuộc quyền sử dụng đất và quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q.
    • [4] Theo các tài liệu chứng cứ được nêu tại mục [3.1], [3.2] của bản án, HĐXX có căn cứ xác định: Thửa đất số 258 của ông T nhận chuyển nhượng có nguồn gốc từ bà Phạm Thị Lệ T2, lúc đó bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 258, tờ bản đồ 437,8 m² ( 366,4 m² đất ở và 71,4 m² đất CHNK), địa chỉ thửa đất: Tổ B phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, bà T2 đề nghị tách thửa đất nêu trên thêm 01 thửa có diện tích 336,4m² (265,0 m² đất ở và 71,04 m² đất CHNK) để tặng cho con ruột là ông Nguyễn Tấn H, diện tích thửa còn lại là 437,8 - 336,4 = 101,4 m², thửa đất này đã được bà T2 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn D, bà Trần Thị Kim Q1. Sau đó ông D, bà Q1 đã chuyển nhượng lại cho ông Lê Đức T. Như vậy, từ thời điểm thửa đất 258 được bà Phạm Thị Lệ T2 tách thửa, chuyển nhượng và khi ông T nhận chuyển nhượng, đăng ký chỉnh lý biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA498831 ngày 25/4/2016 thì diện tích thửa đất 258 là 101,4 m², mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị.
    • [5] Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/01/2023 thể hiện: Phần đất tranh chấp có tứ cận: Hướng Bắc giáp nhà ông Lê Đức T, hướng Nam giáp phần trại tạm lắp ghép không có tường xây, mái lợp tôn, hướng Đông: che bạt, hướng Tây che tôn tạm, diện tích khoảng 4m x6 m, khoảng cách giữa nhà sau ông T (hướng Bắc) và trại tạm là một phần mái tôn diện tích 4mx 0,41m. Hiện nay tại số nhà A đường L của ông T gồm có ông Lê Đức T, bà Nguyễn Thị Kim T1 và con Hồ Đắc H1 sinh sống. Tại địa chỉ: Số A đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng của ông Nguyễn Tấn H thì có ông Nguyễn Tấn H, bà Phạm Thị Lệ T2, bà Nguyễn Thị Ngọc Q cùng 02 con chưa thành niên sinh sống.
    • [6] Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/7/2024 thể hiện vị trí tứ cận của phần diện tích đất tranh chấp diện tích 3,063 m² như sau: Hướng Đông cạnh dài khoảng 0,7655 m giáp nhà số A L, hướng Tây cạnh dài khoảng 0,7655 m giáp nhà ông H, hướng Nam cạnh dài 4 m giáp nhà ông T, hướng Bắc cạnh dài 4 m giáp nhà ông H. Hiện trạng tài sản gắn liền trên đất như sau: Có một phần mái lợp tôn không có tường xây, nền xi măng và gạch vỉa hè.
    • [7] Theo sơ đồ đo đạc ngày 29/3/2023 do Trung tâm K cung cấp thể hiện: Phần diện tích đất hiện trạng của ông H sử dụng (là thửa đất số 159 theo thửa đất của Trung tâm xác định tại sơ đồ tương ứng với thửa đất số 159 tờ bản đồ số 28 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU962147) là 342,4 m² và vỉa hè theo hiện trạng là 4.65 m; diện tích đất hiện trạng của ông T sử dụng (là thửa đất số 165 theo thửa đất của Trung tâm xác định tại sơ đồ tương ứng với thửa đất số 258 tờ bản đồ số 11 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA498831) là 100,2 m² và vỉa hè theo hiện trạng là 4,64 m.
    • [8] Tại mục 1 công văn số 543/TTKTTNMTMT-ĐĐBĐ ngày 24/5/2024 của Trung tâm K thể hiện nội dung như sau: Đề nghị Trung tâm xác định lại diện tích của thửa đất 165 và 159 (theo thửa đất của Trung tâm xác định tại sơ đồ) sau khi xác định vỉa hè 5,00m thay vì 4,64 m và 4,65 m so với Sơ đồ Trung tâm cung cấp cho toà án. Trung tâm tiến hành xác định diện tích của thửa đất số 165 và thửa đất số 159 có ranh giới mốc giới cách vỉa hè 5,00 m lần lượt là 98,5 m² và 340, 0 m². Như vậy, so với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA498831 đối với thửa đất 258 của ông T là 101,4 m² và diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU962147 đối thửa đất số 159 của ông H, bà Q là 336,4 m² thì để ranh giới mốc giới của 02 thửa đất cách vỉa hè 5 m theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất của ông T thiếu 101,4 - 98,5 = 2,9 m², diện tích đất của ông H và bà Q thừa 340 - 336,4 = 3,6 m².
    • [9] Như vậy, để đảm bảo thửa đất số 258 thuộc quyền sử dụng của ông T đủ diện tích 101, 4 m² (mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị) và vỉa hè đủ 5m theo đúng như sơ đồ thửa đất số 258 được ghi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA498831 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 25/4/2016, đã đăng ký chỉnh lý biến động ngày 23/5/2016 cho ông Lê Đức T, thì diện tích đất ông T còn thiếu là 2,9 m² (mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị),(có sơ đồ kèm theo), có tứ cận như sau: Hướng Đông cạnh dài khoảng 0,76 m giáp nhà số A L, hướng Tây cạnh dài khoảng 0,66 m giáp nhà ông H, hướng Nam giáp nhà ông T, hướng Bắc giáp nhà ông H. Phần diện tích 2,9 m² nêu trên hiện đang được ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q sử dụng.
    • [10] Nguyên đơn ông Lê Đức T yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q2 trả lại cho ông tổng diện tích là 3,062 m², theo bề ngang 4m và chiều sâu là 0,766m, có tứ cận như sau: Hướng Bắc và Tây giáp đất ông H, hướng Đông giáp nhà số A đường L và hướng Nam giáp nhà ông T, gồm 2, 9 m² đất ông T bị thiếu và phần diện tích đất thừa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H đang chiếm giữ phải trả cho ông T theo tỷ lệ diện tích là 3,062 - 2,9 = 0,162 m². HĐXX nhận thấy theo phân tích nêu trên thì quyền sử dụng đất của nguyên đơn hiện thiếu 2,9 m², đồng thời, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh phần diện tích thừa 0,162 m² thuộc quyền sử dụng đất của ông T nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu của ông T đối với phần diện tích còn lại là 0,162 m².
    • [11] Bị đơn ông Nguyễn Tấn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Q thống nhất theo hiện trạng vỉa hè đúng 5 m, vợ chồng ông đồng ý giao lại cho ông T phần diện tích đất 1,84 m², có chiều dài là 0,46 m (0,34+0,1) m x chiều rộng là 4 m và tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trên phần diện tích đó, có vị trí tứ cận như sau: Hướng Nam: giáp đường L, hướng Bắc giáp nhà ông (số A đường L), hướng Đông giáp số nhà: 196A đường L (nhà ông Lê Đức T), hướng Tây giáp nhà ông (số A đường L). HĐXX nhận thấy: Theo sơ đồ đo đạc ngày 25/5/2024 do Trung tâm K cung cấp phúc đáp công văn số 161/CV-TA ngày 15/5/2024 của Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ thể hiện: Hướng Đông cạnh dài 0,76 m (giáp nhà số A L) là nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA498831 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 25/4/2016, đã đăng ký chỉnh lý biến động ngày 23/5/2016 cho ông Lê Đức T, hướng Tây cạnh dài 0,59 m giáp nhà ông H. Theo như nhận định tại mục [9] của bản án thì hướng Tây cạnh dài 0,66 m, nằm trong sai số cho phép. Đồng thời sau khi trả lại diện tích 2,9 m² cho ông T thì diện tích đất sử dụng của ông H, bà Q là 340 - 2,9 = 337,1 m², so với diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU962147 đối thửa đất số 159 của ông H, bà Q là 336,4 m², thì diện tích sử dụng đất của ông H, bà Q2 vẫn đảm bảo. Do đó, HĐXX không chấp nhận ý kiến của ông H, bà Q2 về việc trả lại giao lại cho ông T phần diện tích đất 1,84 m², có chiều dài là 0,46 m (0,34+0,1m) x chiều rộng là 4 m và tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trên phần diện tích đó.
    • [12] Từ những nhận định nêu trên, HĐXX có căn cứ xác định phần diện tích đất 2,9 m² nêu trên là thuộc thửa đất số 258, thuộc quyền sử dụng của ông Lê Đức T. Do đó, căn cứ quy định tại các điều 163, 164, 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, khoản 5 Điều 166 của Luật đất đai năm 2013, HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T về việc yêu cầu buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại phần diện tích 2,9 m² (mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị) (có sơ đồ kèm theo) cho ông Lê Đức T.
    • [13] Về tài sản gắn liền trên diện tích đất tranh chấp:
      • [13.1] Theo Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/7/2024 thì Hiện trạng tài sản gắn liền trên phần diện tích đất tranh chấp 3,062 m² như sau: Có một phần mái lợp tôn không có tường xây, nền xi măng và gạch vỉa hè. Theo kết quả định giá theo chứng thư thẩm định giá số 430/2024/264 thì giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 3,062 m² là 98.342.309 đồng và tài sản gắn liền trên đất gồm phần mái tôn 964.530 đồng, phần nền gạch Terazzo có giá trị 174.534 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Tấn H trình bày phần mái lợp tôn là do ông xây, còn đối với nền xi măng và vỉa hè thì ông T trình bày là ông H xây, còn ông H trình bày là ông không biết ai xây dựng. HĐXX nhận thấy phần tài sản gắn liền trên đất là nằm trong phần diện tích đất ông H sử dụng trước đến nay.
      • [13.2] Tại phiên toà, nguyên đơn đề nghị tháo dỡ phần mái lợp tôn, nền xi măng và gạch vỉa hè trong phần diện tích 3,062 m². Theo nhận định tại mục [12] của bản án, để đảm bảo quyền sử dụng đất của ông T đối với phần diện tích đất 2,9 m² nêu trên, HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc ông H và bà Q tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trong diện tích đất 2,9 m², để bàn giao lại phần diện tích 2,9 m² cho ông T.
    • [14] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại cho ông Lê Đức T phần đất lấn chiếm có diện tích 2,9 m² và tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng trên diện tích đất đó, có tứ cận như sau: Hướng Đông giáp nhà số A đường L, hướng Tây giáp nhà ông H, hướng Nam giáp nhà ông T, hướng Bắc giáp nhà ông H. Không chấp nhận một phần yêu khởi kiện của ông T đối với phần diện tích đất 0,162 m². Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là cơ sở phù hợp với nhận định trên của HĐXX nên được chấp nhận.

Từ những phân tích đã nêu trên, HĐXX có đủ cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T.

  1. [15] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Đức T được chấp nhận một phần nên ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Lê Đức T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. [16] Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, chi phí định giá là 5.940.000 đồng và chi phí đo đạc là 5.928.000 đồng, tổng cộng là 13.868.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá và chi phí đo đạc, tổng cộng là 13.134.291 đồng, ông Lê Đức T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá và chi phí đo đạc, tổng cộng là 733.709 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157, Điều 165 và khoản 2 Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự. Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Đức T số tiền 13.134.291 đồng mà ông Lê Đức T đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, chi phí định giá là 5.940.000 đồng và chi phí đo đạc là 5.928.000 đồng, tổng cộng là 13.868.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Điều 26, 35, 39, 147, 157, 161, 165, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 163, 164, 166 Bộ luật Dân sự;
  • - Các Điều 26, 166 Luật Đất đai năm 2013;
  • - Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T đối với ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

  1. Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại cho ông Lê Đức T phần diện tích đất 2,9 m² (mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị), có tứ cận như sau: Hướng Đông cạnh dài khoảng 0,76 m giáp nhà số A L, hướng Tây cạnh dài khoảng 0,66 m giáp nhà ông H, hướng Nam giáp nhà ông T, hướng Bắc giáp nhà ông H (có sơ đồ kèm theo).
  2. Các đương sự được quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q tháo dỡ phần mái tôn, nền xi măng nằm trong diện tích đất 2,9 m² nêu trên.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q trả lại cho ông Lê Đức T phần diện tích đất 0,162 m².
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
    • - Ông Lê Đức T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 649.200 đồng theo biên lai thu số 0002024 ngày 28/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Hoàn trả lại cho ông T số tiền chênh lệch là 349.200 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và chi phí đo đạc, tổng cộng là 13.134.291 đồng. Ông Lê Đức T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và chi phí đo đạc, tổng cộng là 733.709 đồng, được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, chi phí định giá là 5.940.000 đồng và chi phí đo đạc là 5.928.000 đồng, tổng cộng là 13.868.000 đồng. Ông T đã nộp đủ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và chi phí đo đạc. Buộc ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Ngọc Q có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Đức T số tiền 13.134.291 đồng.

  1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Q không có mặt khi tòa án tuyên án, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 81/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Lê Đức T và ông Nguyễn Tấn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger