Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HSST

Ngày: 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Nghĩa và bà Phan Thị Oanh

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Trầm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Ngô Minh C, sinh ngày 25/5/1992. Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Cha: Ngô Minh Đ, sinh năm 1964; Mẹ: Đặng Thị T, sinh năm 1964. Tiền án: Không; Tiền sự: + Ngày 26/7/2021, bị Công an xã B, thành phố T xử phạt hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; + Ngày 14/8/2021, bị Công an phường F, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; + Ngày 26/9/2022, bị Công an xã B, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; + Ngày 22/02/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng. Nhân thân: Ngày 11/06/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong bản án ngày 10/5/2021. Bị cáo Ngô Minh C đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 08/01/2024 tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
  2. Nguyễn Thành T1, sinh ngày 29/6/2003. Nơi ĐKHKTT và chổ ở: khu phố C, phường P, thành phố T, Phú Yên; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Cha: Nguyễn Minh T2, sinh năm 1972; Mẹ: Đỗ Thị Ngọc T3, sinh năm 1983. Vợ: Nguyễn Lê Uyển M sinh năm 2005; Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 18/5/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 4.500.000 đồng về hành vi ném gạch, ngói vào nhà ở, vào người khác. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Nguyễn Phương Thế K, sinh năm 2005; Địa chỉ: thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn M1, sinh năm 1951;
  2. Nguyễn Văn K1, sinh năm 1985;

Đồng địa chỉ: thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Đều có mặt.

  1. Phạm Kim H, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt.

  1. Nguyễn Duy P, sinh năm 1983;

ĐKTT: Thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ 2, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Chổ ở: Khu phố Ngân Sơn, thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

P hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ1, huyện C, tỉnh Đắc Lắc.

Vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Ngô Nhật A, sinh năm 2004;

Địa chỉ: thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/7/2023, Ngô Minh C, Nguyễn Thành T1 mượn xe mô tô biển số 78F1- 448.67 của anh Nguyễn Phương Thế K để đi gặp anh Phạm Kim H lấy lại điện thoại của anh K mà trước đó ngày 06/7/2023 C đã giúp anh K đem đi cầm cố cho anh H, anh K đồng ý giao xe. C điều khiển xe chở T1 và gọi cho anh H hẹn gặp tại ngã ba đường T - V phường P, thành phố T. Trên đường đi, C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của K nên bàn bạc với T1 đem xe mô tô của K đi cầm cố lấy tiền thì T1 đồng ý. Khi gặp anh H, C nói xe mô tô biển số 78F1- 448.67 là của C và hỏi anh H có nhận cầm cố xe với giá 2.000.000 đồng không thì anh H đồng ý. Anh H chuyển khoản cho C 1.450.000 đồng, còn lại trừ 550.000 đồng tiền anh K đã cầm cố điện thoại cho H. C đưa xe mô tô biển số 78F1- 448.67 cho anh H và nhận lại điện thoại của anh K. C chuyển khoản cho T1 200.000 đồng. Sau đó, anh H chở T1 và C về nhà T1, khi gặp anh K hỏi “xe em đâu” thì C im lặng, T1 nói xe cho bạn mượn chút nữa trả. Khoảng 22 giờ cùng ngày, anh K tiếp tục hỏi T1 xe đâu thì T1 dùng tay đánh vào má phải, vào bụng anh K nên anh K bỏ về. Khoảng 23 giờ cùng ngày, C gọi điện cho anh H lấy thêm 1.000.000 đồng tiền cầm xe, anh H đồng ý và chuyển khoản cho C, C chuyển khoản cho T1 100.000 đồng. Tiền cầm xe C và T1 khai sử dụng đánh bạc trên mạng thua hết, đến ngày 09/7/2023 C không đến lấy lại xe, anh H điện thoại cho C thì C nói bán xe đi. Ngày 25/7/2023, anh H bán xe mô tô biển số 78F1 - 448.67 cho Nguyễn Duy P với giá 3.000.000 đồng. Ngày 02/8/2023, P điều kiển xe mô tô biển số 78F1- 448.67 đi trộm cắp tài sản tại khu phố Đ, phường H, H, thị xã Đ thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ xe.

Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu xám đen, biển số 78F1- 448.67 có giá trị 16.250.000 đồng.

Cáo trạng số 72/CT - VKSTH ngày 30/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố các bị cáo Ngô Minh C và Nguyễn Thành T1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa trình bày lời luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung cáo trạng, tuyên bố các bị cáo Ngô Minh C và Nguyễn Thành T1 đều phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho tất cả các bị cáo, bị cáo T1 áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo C từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, đề nghị xử phạt T1 từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính các bị cáo đã nộp lại; về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Các bị cáo Ngô Minh C và Nguyễn Thành T1 trình bày diễn biến hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình sai trái nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Bị hại Nguyễn Phương Thế K trình bày: xe mô tô đã được giao trả lại cho anh Nguyễn Văn K1 nên không có ý kiến hay yêu cầu gì, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn K1 trình bày: chiếc xe mô tô biển số 78F1- 448.67 tôi đứng tên chủ sở hữu. Do đi làm ăn xa nên để ở nhà cho ông M1 sử dụng; ngày 23/7/2023 ông M1 cho K mượn đi và bị các bị cáo mượn đem đi cầm cố, nay đã nhận lại xe nên không yêu cầu bồi thường.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn M1 trình bày: ngày 07/7/2023, tôi cho K mượn xe mô tô 78F1- 448.67 (do K1 đứng tên chủ sở hữu) đi công việc và bị các bị cáo cầm cố lấy tiền. Nay xe đã được thu hồi trả lại cho K1 nên không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng nên không nhận xét gì thêm.
  2. Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/7/2023 tại ngã ba đường T - V phường P, thành phố T, Ngô Minh C và Nguyễn Thành T1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 78F1- 448.67 của anh Nguyễn Phương Thế K trị giá 16.250.000 đồng để đi gặp Phạm Kim H lấy lại điện thoại di động cho K, trên đường đi C nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên bàn bạc với T1 cầm cố xe của K lấy tiền thì T1 đồng ý. Khi gặp H, C và T1 nói dối xe của C và cầm cố cho H được tổng cộng số tiền 3.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo C và T1 đã đồng phạm về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật viễn dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. Về tính chất, mức độ phạm tội: Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lấy xe người khác cầm cố là xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo lười lao động, muốn có tiền đánh bạc nên đã thực hiện tội phạm.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên T1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
  6. Đặc điểm nhân thân của các bị cáo: Bị cáo C có 04 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và có nhân thân xấu: Ngày 11/06/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo T1 có 01 tiền sự về hành vi ném gạch, ngói vào nhà ở, vào người khác. Tuy nhiên các bị cáo không có thái độ khắc phục, sửa chữa bản thân mà phạm tội.
  7. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly các bị cáo C, T1 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất của đồng phạm và mức độ tham gia đồng phạm của từng bị cáo để có mức hình phạt tù phù hợp cho từng bị cáo, cụ thể:

    Bị cáo C là người nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên bàn bạc với T1 đem xe của K cầm cố cho H lấy tiền. Từ sự đề xuất của bị cáo C mà bị cáo T1 thống nhất ý chí, cùng bị cáo C nói dối với H là xe của C và cùng cầm cố xe cho H. Bị cáo C là người trực tiếp nhận tiền và tự chia cho T1 300.000 đồng, phần bị cáo C là 2.700.000 đồng nên hành vi phạm tội của C có tính nguy hiểm hơn T1 do đó áp dụng mức hình phạt bị cáo C cao hơn bị cáo T1.

  8. Đối với hành vi Ngô Minh C và Nguyễn Thành T1 khai đã dùng số tiền cầm cố xe mô tô biển số 78F1 - 448.67 tham gia đánh bạc trên mạng, nhưng ngoài lời khai của các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý.
  9. Đối với hành vi Nguyễn Thành T1 dùng tay đánh anh Nguyễn Phương Thế K gây thương tích, tuy nhiên anh K có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  10. Đối với Phạm Kim H có hành vi nhận cầm cố và Nguyễn Duy P có hành vi mua chiếc xe mô tô biển số 78F1 - 448.67 nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không cấu thành tội phạm.
  11. Về trách nhiệm dân sư: bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không ý kiến hay yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
  12. Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo C và T1 nộp lại.
  13. Về án phí: các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Minh C và Nguyễn Thành T1 đều phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thành T1 được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Ngô Minh C: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Bị cáo Nguyễn Thành T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) mà bị cáo Ngô Minh C nộp theo Biên lai thu tiền số 0001055 ngày 06 tháng 5 năm 2024 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bị cáo Nguyễn Thành T1 nộp theo Biên lai thu tiền số 0001048 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Ngô Minh C và Nguyễn Thành T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Công an TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HSST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 81/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Minh C, cùng đồng phạm Nguyễn Thành T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger