|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19-4-2024 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Kha
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 107/2024/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trương Thanh C, sinh năm: 1992. Địa chỉ cư trú: Nhà không số, ấp C, xã H, huyện Th, tỉnh C.
Tạm trú: Số 227, đường 30/4, phường X, quận N, thành phố Th, (có mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thảo L, sinh năm: 1992. Địa chỉ cư trú: Số 233, đường Ng, khóm 5, phường 5, thành phố C, tỉnh C, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thảo L kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Tình cảm vợ chồng không gắn kết, vợ thiếu tôn trọng chồng và gia đình bên chồng, bất đồng về kinh tế....và hiện tại, vợ chồng đã ly thân 04 tháng nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu ly hôn với chị L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Trương Nguyễn Thắng sinh ngày 24/01/2023, hiện đang sống cùng mẹ. Khi ly hôn anh thống nhất giao con cho chị L nuôi dưỡng anh cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con 18 tuổi.
Về tài sản chung: Anh xác định không có.
Về nợ chung: Anh xác định không có.
Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian chung sống, nơi đăng ký kết hôn đúng như anh C trình bày. Chị xác định trong C sống, vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn mà gia đình hai bên không thể hàn gắn và hiện tại chị cũng không còn tình cảm với anh C. Tuy nhiên, việc anh C yêu cầu ly hôn với chị, chị chưa đồng ý ly hôn vì chị muốn đợi kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an huyện Thới Bình và kết luận của Đảng ủy; Ban giám đốc Bệnh viện Quân y 121 về việc chị đang tố cáo anh C và gia đình anh C liên quan đến kết quả xét nghiệm ADN của cháu Thắng. Khi nào sự việc rõ ràng chị mới đồng ý ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Trương Nguyễn Thắng sinh ngày 24/01/2023, hiện đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng và đề nghị anh C không được thăm nom, chăm sóc giáo dục cháu Thắng vì ngay từ đầu anh C không coi cháu Thắng là con ruột của mình.
Về tài sản chung: Chị xác định không có.
Về nợ chung: Chị xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị L xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của anh C với chị L, Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa, cả anh C với chị L thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tỉnh cảm vợ chồng không còn, không tôn trọng lẫn nhau.
Xét việc chị L chưa đồng ý ly hôn không phải vì còn tình cảm với anh C, muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vì chị muốn đợi kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an huyện Thới Bình và kết luận của Đảng ủy; Ban giám đốc Bệnh viện Quân y 121 về việc chị đang tố cáo anh C và gia đình anh C liên quan đến kết quả xét nghiệm ADN của cháu Thắng. Nhận thấy lý do chị L đưa ra không phải là căn cứ để xem xét không cho ly hôn.
Nhận thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C về việc ly hôn với chị L.
[2] Về con chung: Anh chị thống nhất tiếp tục giao con chung tên Trương Nguyễn Thắng, sinh ngày 24/01/2023 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng nên ghi nhận sự thỏa thuận này giữa các đương sự.
Xét về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn yêu cầu được cấp dưỡng cho con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con 18 tuổi trong khi bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng. Nhận thấy: Theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình thì cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do đó, việc anh C có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con như trên là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con 18 tuổi, có khả năng lao động.
Đối với yêu cầu của chị L về việc không cho anh C thăm nom, chăm sóc giáo dụng con chung: Nhận thấy, trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự thừa nhận cháu Thắng là con chung của anh chị. Anh C cũng chưa vi phạm quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân gia đình.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Do đó, yêu cầu trên của chị L là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về tài sản chung: Anh chị xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về nợ chung: Anh chị xác định anh chị không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Anh C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Thanh C ly hôn với chị Nguyễn Thảo L. (Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 181 ngày 23/11/2018 của UBND xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau).
2. Về con chung: Giao con chung tên Trương Nguyễn Thắng sinh ngày 24/01/2023 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh C cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai cản trở.
Kể từ ngày chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh C không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
5. Về án phí: Anh C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng 300.000 đồng, Ngày 26/02/2024, anh đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008135 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ, anh phải nộp tiếp 300.000 đồng.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp. Cà Mau; - UBND xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Trương Thanh Quốc |
Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; - Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Thanh C ly hôn với chị Nguyễn Thảo L. (Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 181 ngày 23/11/2018 của UBND xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau). 2. Về con chung: Giao con chung tên Trương Nguyễn Thắng sinh ngày 24/01/2023 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh C cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai cản trở. Kể từ ngày chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh C không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành. 3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết. 4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết. 5. Về án phí: Anh C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng 300.000 đồng, Ngày 26/02/2024, anh đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008135 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ, anh phải nộp tiếp 300.000 đồng. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
