|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18/9/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đỗ Khắc Kiếm
- 2. Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 316/2024/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 136/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đoàn Văn T - Sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Hoàng Thị Y - Sinh năm 1990.
Địa chỉ: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A – Luật sư; Công tác tại: Công ty L – Đoàn Luật sư H.
Địa chỉ: Số F P, phường P, quận B, Hà Nội.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên toà anh Đoàn Văn T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị Y kết hôn với nhau năm 2021 trên cơ sở tự nguyện, tổ chức cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, thiếu sự chia sẻ, tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, khiến cho mối quan hệ vợ chồng mờ nhạt, xa cách. Mặc dù vợ chồng đã nhiều cố gắng, hai bên gia đình đã khuyên bảo hoà giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Sau khi sinh con được vài tháng chị Y đã về nhà ngoại để ở và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó nay không ai quan tâm đến ai. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Y.
- Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị Y có 01 con chung, cháu Đoàn Văn Hoàng D – Sinh ngày 07/3/2021. Ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì kể từ khi bỏ đi chị Y để lại cháu D cho anh nuôi dưỡng, cháu D đang sinh sống ổn định.
- Về tài sản chung và công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía chị Hoàng Thị Y: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị Y không có mặt.
- Cung cấp của chính quyền địa phương:
Anh Đoàn Văn T, chị Hoàng Thị Y kết hôn với nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn với nhau tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống với nhau anh, chị có mâu thuẫn như thế nào khu phố không biết mà chỉ thấy chị Y về chung sống cùng mẹ đẻ tại phố T, phường Q, thành phố T từ nhiều tháng nay. Nay anh T có đơn xin ly hôn phố đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng quay về đoàn tụ, nhưng nếu anh, chị cương quyết xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, vợ chồng có 01 con chung cháu Đoàn Văn Hoàng D – Sinh ngày 07/3/2021. Đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật. về tài sản chung vợ chồng có những gì khu phố không biết.
Lời khai của bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của chị Y: Chị Hoàng Thị Y, anh Đoàn Văn T kết hôn với nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và chị Y đã bỏ về chung sống cùng bà từ đó cho đến nay. Nay anh T có đơn xin ly hôn, bà đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng quay về đoàn tụ, nhưng nếu anh T cương quyết xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, vợ chồng có 01 con chung cháu Đoàn Văn Hoàng D – Sinh ngày 07/3/2021. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân nhau, cháu D đang ở với bố, do đó việc
giao ai trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con chung đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị Y vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS để xét xử. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Đoàn Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Đoàn Văn T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Hoàng Thị Y cư trú tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Hoàng Thị Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị Y không có mặt để làm bản tự khai, vắng mặt tại phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa; nên căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử.
[2] Về hôn nhân: Anh Đoàn Văn T, chị Hoàng Thị Y kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T thấy rằng: Hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của anh T cho thấy, sau khi kết hôn anh, chị đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng chỉ tồn tại được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm cách sống, quan niệm sống luôn trái ngược nhau, từ đó mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng nên chị Y đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở. Thu thập chứng cứ tại địa phương, cũng như lời khai của bà M là mẹ đẻ chị Y thể hiện chị Y đã bỏ về ở nhà mẹ đẻ từ nhiều tháng nay. Mặt khác sau khi thụ lý vụ án đến thời điểm này dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng chị Y đã không đến Tòa án để làm việc, không tham gia phiên hòa giải, không tham gia phiên toà. Điều đó cho thấy chị Y không có ý thức níu kéo lại hạnh phúc gia đình mà mặc nhiên để anh T đơn phương ly hôn.
Từ sự phân tích như trên có đủ cơ sở xác định, tình trạng mâu thuẫn giữa anh Đoàn Văn T, chị Hoàng Thị Y đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh T xử cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị Y
[3] Về con chung: Anh Đoàn Văn T, chị Hoàng Thị Y có 01 con chung cháu Đoàn Văn Hoàng D – Sinh ngày 07/3/2021. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai anh T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của anh T là chính đáng, bởi anh có việc làm, có thu nhập, kể từ khi ly thân cháu D đang được anh trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Y không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Đoàn Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án
Về hôn nhân: Xử cho anh Đoàn Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị Y.
Về con chung: Công nhận cháu Đoàn Văn Hoàng D – Sinh ngày 07/3/2021 là con chung của Đoàn Văn T, chị Hoàng Thị Y. Giao cháu Đoàn Văn Hoàng D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Y không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị Hoàng Thị Y có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ: Tòa án không xem xét giải quyết.
Án phí: Anh Đoàn Văn T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001704 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (anh T đã nộp đủ tiền án phí).
Anh Đoàn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Hoàng Thị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hào |
Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình
