Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày: 18-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải

2. Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Đại T - Sinh ngày 25/9/1987, tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đại H - Sinh năm 1959 và con bà: Nguyễn Thị S - Sinh năm 1963; Vợ: Lê Thị T - Sinh năm 1990; Có 03 con; lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Đại T: Bà Trịnh Thị T1 - Sinh năm 1993

Là Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Lê Quốc Hiền, Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa; Địa chỉ: Số 49 đường Hạc Thành, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa (Có mặt)

* Bị hại: Anh Lê Văn Đ - Sinh năm 1984 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Mai Thị V – Sinh năm: 1981 (là vợ của anh Đ); Địa chỉ: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)

* Người làm chứng:

  1. Anh Mai Xuân S – Sinh năm 1987
  2. Địa chỉ: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

  3. Chị Lê Thị P – Sinh năm 1963
  4. Anh Mai Xuân L – Sinh năm 1958
  5. Anh Lê Quang H – Sinh năm 1988
  6. Đều có địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

  7. Anh Mai Xuân V – Sinh năm 1986
  8. Cháu Lê Thị H – Sinh năm 2009
  9. Người đại diện hợp pháp của người làm chứng Lê Thị H: Chị Mai Thị V – Sinh năm: 1981 (mẹ đẻ của Lê Thị H)

  10. Ông Mai Xuân K – Sinh năm 1958
  11. Ông Mai Xuân T – Sinh năm 1965
  12. Đều có địa chỉ: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

Tất cả người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 25/7/2023, Lê Đại T và Lê Văn Đ sau khi ăn cơm uống rượu tại nhà Đ, cả hai đi đến chỗ cắt cây (tại thôn B, xã H) để xem đường vào cho xe ô tô, sau đó cả hai đến nhà anh Mai Xuân S ở cùng thôn với Đ để mượn cưa máy nhưng anh S không có ở nhà. Biết anh S lúc này đang ở nhà bố mẹ đẻ là ông Mai Xuân L và bà Lê Thị P ở thôn H, xã Đ, thị xã N nên cả hai đến thôn H, xã Đ, vào nhà anh Lê Quang H (bạn của T và Đ) để hỏi thăm nhà ông L. Sau khi được H chỉ đường, T mượn xe máy của Đ đi đến nhà ông L, còn Đ ngồi đợi ở nhà anh H. Khi đến nơi, thấy anh S và ông L đang ngồi uống bia ở sân nên T ngồi xuống uống bia cùng. Khoảng 30 phút sau, không thấy T quay lại đón nên Đ đi bộ đến nhà ông L, thấy T đang ngồi uống bia mà không quay lại đón mình nên Đ bực tức chửi bới T. Lúc này mọi người cũng ăn uống xong lại bàn uống nước, Đ và T ngồi gần nhau tiếp tục có lời qua, tiếng lại cãi cự và dùng khuỷu tay đẩy vào ngực nhau; Đ đứng dậy tát 01 cái vào mặt T thì T cũng đứng lên, dùng tay trái gạt và tay phải đấm 01 cái vào mặt Đ, làm Đ ngã ngửa, đập đầu xuống nền sân gạch hoa. T tiếp tục xông lại đá bồi thêm 02 cái vào người và ngồi xuống dùng tay phải vả 01 cái vào mặt Đ, làm Đ nằm bất tỉnh. Khoảng 15 phút sau, Đ tỉnh dậy thì được T lau vết máu trên mồm và chở về. Trên đường về, cả hai vào quán nhà ông Mai Xuân T cùng thôn với Đ ngồi uống bia, sau đó T chở Đ về nhà. Đến tối cùng ngày, Đ nằm trên giường kêu đau không đứng lên, ngồi xuống được. Đến chiều ngày 26/7/2023, chị V đưa Đ đi khám tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nghi Sơn, qua thăm khám phát hiện

có dấu hiệu xuất huyết não nên ngày 27/7/2023 Đ được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá để cấp cứu, điều trị. Đến tối ngày 29/7/2023, Đ có dấu hiệu tâm thần, khi đang nằm trên giường bệnh thì đột nhiên ngồi dậy, cầm thìa kim loại đâm về phía con gái, là Lê Thị H, sau đó chạy ra ngoài phòng, trèo lên ban công tầng 2 rồi nhảy xuống dưới đất. Đ được đưa vào phòng hồi sức tích cực của Bệnh viện cấp cứu và điều trị đến ngày 06/8/2023 thì tử vong.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 11/KLGĐTT-PYTH ngày 22/9/2023, Trung tâm Pháp y Thanh Hoá kết luận: Nguyên nhân chết của Lê Văn Đ là do “Chấn thương sọ não mức độ nặng, gây suy hô hấp suy tuần hoàn không hồi phục”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã trưng cầu Trung tâm pháp y Thanh Hóa giám định mức độ tổn hại sức khoẻ và khả năng tử vong qua hồ sơ hồ sơ bệnh án khám và điều trị từ 18 giờ ngày 26/7/2023 đến 12 giờ ngày 27/7/2023 tại bệnh viện Đa khoa khu vực Nghi Sơn.

Tại Bản kết luận giám định pháp y giám định thương tích qua hồ sơ đối với Lê Văn Đ số 183/KLTgTHS-PYTH ngày 01 tháng 11 năm 2023, Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:

“1. Các kết quả chính:

Căn cứ vào hồ sơ và các tài liệu do cơ quan trưng cầu cung cấp, Trung tâm Pháp y Thanh Hóa xác định những tổn thương ghi nhận do chấn thương gây nên, do tác động của ngoại lực có trước khi nạn nhân chết được tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên qua hồ sơ là:

  • Nhiều cục máu đông, dập não vùng chẩm kèm hình ảnh nốt tăng tỷ trọng vị trí giữa cầu não và não thất IV kích thước ~10 mm: 21% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; Chương 1, mục III; 1).
  • Toàn bộ màng mềm có tổn thương xung huyết và xuất huyết lan tỏa mức độ nặng: 11% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; Chương 1, mục III; 8).
  • Vết xây xước da không rõ hình, kích thước (5 x 1) cm tại vùng mặt trước tai trái: 0,5% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; Chương 8, mục V).
  • Vết xây xước da không rõ hình, kích thước (1 x 0,5) cm tại vùng bờ dưới môi dưới: 0,5% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; Chương 8, mục V).
  • Vết xây xước da không rõ hình, kích thước (3,5 x 1,5) cm tại vùng cằm: 0,5% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; Chương 8, mục V).
  • Vết xây xước da không rõ hình, kích thước (5 x 2,5)cm tại vùng mặt trước dưới gối phải: 0,5% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; Chương 8, mục V).
  • Vết xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, kích thước (1,5x1)cm vùng mặt trước gối trái: 0,5% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; Chương 8, mục V).
  • - Da, cơ, mô mềm vùng chẩm trái có tổn thương bầm dập ngấm tụ máu; chất não phù: Tại thời điểm giám định pháp y trên hồ sơ, không có hướng dẫn đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên trên hồ sơ đối với các thể loại tổn thương như đã ghi nhận này.
  • - Khoang màng bụng, màng phổi hai bên, màng ngoài tim có ít dịch màu vàng chanh: Tại thời điểm giám định pháp y trên hồ sơ; không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để đánh giá chính xác các tổn thương này là hậu quả và/hoặc di chứng của chấn thương xảy ra ngày 25/7/2023, tại thôn Hồng Quang, xã Định Hải, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa gây ra hay là tổn thương do bệnh lý thuộc bệnh nền của bệnh nhân Lê Văn Đ . Không đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với các tổn thương này.

2. Kết quả xét nghiệm bổ sung, giám định khác: Không.

3. Nghiên cứu mẫu vật, thực nghiệm giám định, hiện trường: Không.

4. Thực nghiệm hiện trường: Không.

5. Hội chẩn, xin ý kiến chuyên gia:

  • - Trên 01 phim Xquang ngực thẳng của Lê Văn Đ chụp ngày 26/7/2023 tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Nghi Sơn: Hình ảnh mờ hạn chế đánh giá và không thấy hết khung sườn trái, sơ bộ không thấy tổn thương trên phim.
  • - Trên 01 phim Xquang cột sống thắt lưng của Lê Văn Đ chụp ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Nghi Sơn: Hình ảnh mờ hạn chế đánh giá và không thấy hết khung sườn trái, sơ bộ không thấy tổn thương trên phim.
  • - Trên 01 phim CT-Scanner sọ não của Lê Văn Đ chụp ngày 26/7/2023 tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Nghi Sơn: Hình ảnh nốt tăng tỷ trọng vị trí giữa cầu não và não thất IV kích thước ~7 mm. Nghi ngờ ổ xuất huyết trong ổ dị dạng.
  • - Trên 01 phim CT-Scanner sọ não của Lê Văn Đ chụp ngày 27/7/2023 tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Nghi Sơn: Hình ảnh nốt tăng tỷ trọng vị trí giữ cầu não và não thất IV kích thước ~10 mm. Nghi ngờ ổ xuất huyết trong ổ dị dạng.

2. Kết luận:

  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn Đ qua hồ sơ là 31% (Ba mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Các thương tích tổn thương trên cơ thể của nạn nhân Lê Văn Đ được phát hiện và ghi nhận trong hồ sơ bệnh án khám và điều trị từ 18 giờ ngày 26/7/2023 đến 12 giờ ngày 27/7/2023 tại BVĐK Khu vực Nghi Sơn, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa là nguyên nhân dẫn đến tử vong của nạn nhân Lê Văn Đ .”

Quá trình điều tra, chị Mai Thị V (vợ nạn nhân Lê Văn Đ ) khai báo được nghe Đ kể về việc bị T và người khác dùng gậy, tuýp đánh vào người nhưng do bị ngất nên không biết cụ thể là ai, trong số những người này có một người thanh niên cao, gầy và xăm hình ở cánh tay. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật, tuy nhiên căn cứ lời khai bị can, nhân chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không có căn cứ xác định, ngoài Lê Đại T ra thì không còn có người nào khác đánh gây thương tích cho anh Đ trong vụ án nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị cáo Lê Đại T và chị Mai Thị V là đại diện hợp pháp cho bị hại đã thỏa thuận bồi thường với tổng số tiền là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Chị V đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, không có yêu cầu gì thêm, đồng thời đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lê Đại T.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKS-HS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Đại T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

  • - Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 134; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS năm 2015 đối với bị cáo T.
  • - Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo T là từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (04/12/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã thỏa thuận tổng số tiền bồi thường là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
  • - Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo T phải chịu án phí HSST theo quy định của Pháp luật.

* Quan điểm của bà Trịnh Thị T - Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Đại T đề nghị HĐXX xem xét cụ thể:

  • - Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị;
  • - Về dân sự: Đã bồi thường xong nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Tuấn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay. Vì vậy có đủ căn cứ để khẳng định VKSND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Đại T về tội “Cố ý gây thương tích” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.

[3] Xét tính chất vụ án: Do có mâu thuẫn cá nhân nên Lê Đại T đã có hành vi dùng tay đấm vào mặt anh Lê Văn Đ, làm anh Đ ngã ngửa, đập đầu xuống nền gạch hoa, sau đó T còn dùng chân đá vào người anh Đ. Hậu quả, anh Đ bị chấn thương sọ não, tổn thương cơ thể 31% và tử vong trong quá trình cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền bảo hộ sức khoẻ của con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Cho nên cần phải có một đường lối xử lý nghiêm tương xứng với hậu quả sự mà bị cáo đã gây ra để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

  • - Tiền án, tiền sự không;
  • - Tình tiết tăng nặng: Không;
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; Nhận thức được hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật nên bị cáo đã bàn bạc với gia đình chủ động đến gia đình người bị hại gặp gỡ, xin lỗi, trao đổi và thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), Chị V đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ, Ông Lê Đại H (bố đẻ) cũng có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; Gia đình bị cáo hiện đang thờ cúng liệt sỹ Lê Đại B (bác ruột) nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo ở mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo, cũng như để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật mở đường cho bị cáo hướng tới tương lai để tu dưỡng rèn luyện mình trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Trách nhiệm dân sự: Hai bên đã thỏa thuận bồi thường với tổng số tiền là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Chị Mai Thị V là đại diện hợp pháp cho anh Lê Văn Đ đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đại T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Lê Đại T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (04/12/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 các điểm a khoản 1 Điều 23; mục 1 phần I và điểm b tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hạnh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

Nguyễn Văn Dương

Lê Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào trưa ngày 25/7/2023, Lê Đại T và Lê Văn Đ sau khi ăn cơm uống rượu tại nhà Đ, cả hai đi đến chỗ cắt cây (tại thôn B, xã H) để xem đường vào cho xe ô tô, sau đó cả hai đến nhà anh Mai Xuân S ở cùng thôn với Đ để mượn cưa máy nhưng anh S không có ở nhà. Biết anh S lúc này đang ở nhà bố mẹ đẻ là ông Mai Xuân L và bà Lê Thị P ở thôn H, xã Đ, thị xã N nên cả hai đến thôn H, xã Đ, vào nhà anh Lê Quang H (bạn của T và Đ) để hỏi thăm nhà ông L. Sau khi được H chỉ đường, T mượn xe máy của Đ đi đến nhà ông L, còn Đ ngồi đợi ở nhà anh H. Khi đến nơi, thấy anh S và ông L đang ngồi uống bia ở sân nên T ngồi xuống uống bia cùng. Khoảng 30 phút sau, không thấy T quay lại đón nên Đ đi bộ đến nhà ông L, thấy T đang ngồi uống bia mà không quay lại đón mình nên Đ bực tức chửi bới T. Lúc này mọi người cũng ăn uống xong lại bàn uống nước, Đ và T ngồi gần nhau tiếp tục có lời qua, tiếng lại cãi cự và dùng khuỷu tay đẩy vào ngực nhau; Đ đứng dậy tát 01 cái vào mặt T thì T cũng đứng lên, dùng tay trái gạt và tay phải đấm 01 cái vào mặt Đ, làm Đ ngã ngửa, đập đầu xuống nền sân gạch hoa. T tiếp tục xông lại đá bồi thêm 02 cái vào người và ngồi xuống dùng tay phải vả 01 cái vào mặt Đ, làm Đ nằm bất tỉnh. Khoảng 15 phút sau, Đ tỉnh dậy thì được T lau vết máu trên mồm và chở về. Trên đường về, cả hai vào quán nhà ông Mai Xuân T cùng thôn với Đ ngồi uống bia, sau đó T chở Đ về nhà. Đến tối cùng ngày, Đ nằm trên giường kêu đau không đứng lên, ngồi xuống được. Đến chiều ngày 26/7/2023, chị V đưa Đ đi khám tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nghi Sơn, qua thăm khám phát hiện có dấu hiệu xuất huyết não nên ngày 27/7/2023 Đ được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá để cấp cứu, điều trị. Đến tối ngày 29/7/2023, Đ có dấu hiệu tâm thần, khi đang nằm trên giường bệnh thì đột nhiên ngồi dậy, cầm thìa kim loại đâm về phía con gái, là Lê Thị H, sau đó chạy ra ngoài phòng, trèo lên ban công tầng 2 rồi nhảy xuống dưới đất. Đ được đưa vào phòng hồi sức tích cực của Bệnh viện cấp cứu và điều trị đến ngày 06/8/2023 thì tử vong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger