|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/DS-ST
Ngày 18-6-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Quốc Văn
Ông Hoàng Xuân Niêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H; Sinh năm: 1971 (Có mặt);
- Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;
- - Bị đơn: 1/ Ông Mã Phi H1 – sinh năm 1981(Vắng mặt);
- 2/ Bà Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1979 (Xin vắng mặt);
- Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;
- Chỗ ở hiện nay: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/02/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Vào ngày 15/8/2016 âm lịch, ông H có cho vợ chồng ông Mã Phi H1 và bà Nguyễn Thị H2 vay 43 chỉ vàng 34k. Khi vay tiền ông H1 và bà H2 có giao một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 957422 đứng tên Nguyễn Thị H2 để làm tin. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H đang cất giữ và cam kết không cầm cố, thế chấp,... cho bất kỳ tổ chức cá nhân nào.
Nay ông H yêu cầu Tòa án buộc ông H1 và bà H2 trả cho ông 4 chỉ vàng 24K và ông sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bị đơn. Ngoài ra, ông H không yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 07/3/2024, bị đơn ông Mã Phi H1 trình bày:
Tôi đã được tiếp cận với nội dung đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và biết được tiến độ giải quyết vụ án của Tòa án và tôi không có ý kiến gì. Đối với tranh chấp giữa ông H với vợ chồng tôi thì tôi có ý kiến như sau: Tôi với ông H là bà con bên thông gia chứ không họ hàng gì, chúng tôi cùng ở tại địa phương nên biết nhau từ lâu, giữa chúng tôi không có mâu thuẫn gì.
Tôi đã biết yêu cầu khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và không có thắc mắc hay phản đối gì. Tôi thừa nhận vào ngày 18/4/2021 âm lịch, tôi và bà H2 có vay của ông H số vàng là 43 chỉ vàng 24K, không thỏa thuận lãi suất, hẹn 10 ngày sau sẽ trả đủ vàng. Đối với biên nhận lập ngày 18/4/2021 (âm lịch) tôi thừa nhận đây là chữ viết tên Mã Phi H1 và Nguyễn Thị H2 là của tôi và bà H2, được bà H2 ký nhận trước sự chứng kiến của tôi, tôi xác định nội dung trong tờ biên nhận trên là đúng thực tế. Tôi và vợ tôi thừa nhận toàn bộ số nợ theo biên nhận và có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin. Nay tôi đồng ý trả cho ông H số vàng 43 chỉ 24K như trên, còn số vàng lãi thì tôi yêu cầu không đóng lãi vì vợ tôi đang chấp hành án ở Trại giam C nên gia đình gặpnhiều khó khăn, vì việc vay tiền là chúng tôi tự nguyện vay nên tôi không chối cãi gì. Vì điều kiện chúng tôi bị vỡ nợ nên đang gặp khó khăn và xin trả dần đến khi nào hết nợ. Đồng thời tôi yêu cầu nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi không đồng ý bán đứt phần đất trên.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 04/4/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị H2 trình bày:
Tôi đã biết nội dung đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ do ông Hoàng cung c cùng các tài liệu khác có tại hồ sơ và tôi không thắc mắc hay khiếu nại gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H đòi 43 chỉ vàng 24K tôi thừa nhận toàn bộ khoản nợ 43 chỉ vàng trên và đồng ý thanh toán cho ông H 43 chỉ vàng 24K và yêu cầu ông H trả lại giấy chứng nhận quyền srư dụng đất mà vợ chồng tôi giao cho ông H quản lý.
Đối với biên nhận lập ngày 18/4/2021 (âm lịch) tôi xác định đã đọc qua nội dung và đồng ý ký tên “Hường” và ghi tên “Nguyễn Thị H2”. Tôi xác định nội dung trong biên nhận trên là chính xác. Tuy nhiên do hiện nay gia đình gặp nhiều khó khăn nên xin trả dần đến khi nào dứt nợ. Tôi đã được tiếp cận biên bản làm việc ngày 07/3/2024 đối với ông H1 và thống nhất nội dung của biên bản trên, mọi vấn đề trong vụ án tôi để cho ông H1 quyết định. Đồng thời tôi yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bảo lưu quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, yêu cầu Tòa án buộc ông H1 và bà H2 trả cho ông 4 chỉ vàng 24K và ông sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bị đơn. Ngoài ra, ông H không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc bị đơn ông Mã Phi H1 và bà Nguyễn Thị H2 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Văn H 43 chỉ vàng 24K
Án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu ông Mã Phi H1 và bà Nguyễn Thị H2 trả số vàng đã vay. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản; bà H2 và ông H1 có nơi cư trú tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bà H2 và ông H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng bà H2 có yêu cầu xét xử vắng mặt, còn ông H1 vắng mặt tại phiên toà không lý do, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H2 và ông H1 theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Giao dịch vay vàng giữa ông H với vợ chồng bà H2 và ông H1 là thực tế có xảy ra được bị đơn thừa nhận tại biên nhận ngày 18/4/2021 âm lịch, biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 07/3/2024 với ông Mã Phi H1, biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 04/4/2024 với bà Nguyễn Thị H2, do bị đơn không trả nợ theo thỏa thuận nên ông H khởi kiện yêu cầu bà H2 và ông H1 thanh toán nợ vay.
[3] Đối với số vàng đã vay: Tại các biên bản làm việc ông H1 và bà H2 thừa nhận có vay của nguyên đơn 43 chỉ vàng 24K và thống nhất thanh toán cho nguyên đơn. Đây là nợ chung của vợ chồng nên cần buộc bà H2 và ông H1 cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ông H là phù hợp.
[4] Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H tự nguyện trả lại cho bị đơn nên cần ghi nhận.
[5] Về án phí dân sự có giá ngạch: Ông H không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được nhận lại, ông H1 và bà H2 phải chịu án phí trên giá trị số vàng bị buộc phải thanh toán cho nguyên đơn.
[6] Các vấn đề khác: Các đương sự phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định.
[7] Xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H2 và ông Mã Phi H1 thanh toán nợ vay.
Buộc bà Nguyễn Thị H2 và ông Mã Phi H1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Văn H 43 (Bốn mươi ba) chỉ vàng 24K.
Ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ giao trả cho ông H1 và bà H2 một bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng số CD 957422 ký cấp ngày 25/4/2016 cấp cho bà Nguyễn Thị H2.
2. Về án phí dân sự có giá ngạch: bà Nguyễn Thị H2 và ông Mã Phi H1 phải chịu số tiền 15.652.000 đồng, (tính giá vàng 24K tại thời điểm ngày 18/6/2024 là 7.280.000 đồng/chỉ).
Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí. Ngày 22/02/2024, ông H có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 6.730.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0015990 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
3. Ông H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà H2 và ông H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Phạm Lan Chi |
Bản án số 81/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 81/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay vàng
