Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST.

Ngày: 17-4-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bính
  2. Ông Nguyễn Văn Đô

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/HSST-QĐ ngày 05/4/2024 đối với bị cáo:

Võ Ngọc H

(tên gọi khác: Không có) - sinh ngày 19/5/1998, tại Phú Yên; Nơi ĐKHKTT: Khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện nay: Khu phố I, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Võ Ngọc H1, sinh năm 1971 và bà Lê Thị V, sinh năm 1978; vợ bà Nguyễn Thị T, sinh năm 2000 (đã ly hôn); con có 01 con sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 23 giờ ngày 18/12/2023, do nhu cầu sử dụng ma túy nên Võ Ngọc H đi đến quán nét (không biển hiệu) tại khu phố A, phường M, thành phố P gặp 01 người tên B (chưa rõ nhân thân), H nhờ B hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì B đồng ý. Lúc này, B gọi điện cho một người tên M (chưa rõ nhân thân) hỏi mua giúp H 200.000 đồng ma túy đá thì được M hẹn một tiếng sau đi đến khu du lịch G, thuộc khu phố A, phường M, thành phố P để thực hiện giao dịch. Đến 23 giờ 00 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 86B3 – 650.33 đi đến điểm đã hẹn. Tại đây, H đưa cho M 200.000 đồng, M nhận tiền rồi đưa lại cho H 01 gói nylon bên trong chứa ma túy đá. Mua được ma tuý, H cất dấu vào trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi chạy vòng quanh khu vực phường M. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 19/12/2023, khi H điều khiển xe đi đến trước khu vực nhà thờ M2, đường N, thuộc khu phố I, phường M, thành phố P thì bị lực lượng Công an phường M yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã đưa H cùng tang vật về trụ sở Công an phường M để làm việc.

Quá trình điều tra, Võ Ngọc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, H khai nhận số ma túy bị thu giữ H mua về để sử dụng, chứ không nhằm mục đích bán cho người khác.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước (4,3x01)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (thu giữ trong lòng bàn tay trái của H, được kí hiệu M khi giám định).
  • 01 xe mô tô hiệu Srius màu cam, biển số 86B3-650.33, số máy: B3X9B502088; số khung: 324JY185937 (thu giữ của Võ Ngọc H).

Tại Bản kết luận giám định số 1463/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1743 gam là Methamphetamine.

H2 lại mẫu vật gửi đến giám định: 01 gói nylon và 0,1257 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1463, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.

Xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius màu cam đen, biển số 86B3-650.33, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Trúc D (sinh năm 1994, trú tại thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, là mợ của H). Ngày 19/12/2023, H mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, chị D không biết việc H sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma tuý về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu. Chị D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại các lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, trong quá trình điều tra đều thể hiện bị cáo H có hành vi tàng trữ trái phép 0,1743 gam Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Với hành vi nêu trên, ngày 22/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra bản cáo trạng số 38/CT-VKS truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép 0,1743 gam Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đề nghị xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy các mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1463, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh B.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 00 giờ 20 phút ngày 19/12/2023, tại trước khu vực nhà thờ M2, đường N, thuộc khu phố I, phường M, thành phố P, Võ Ngọc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1743 gam ma túy là Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi và thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 22/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

H biết M1 là các loại ma túy nằm trong danh mục nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm tàng trữ trái phép vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi này không những xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử phạt một mức án tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về nhân thân: Hào chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius màu cam đen, biển số 86B3-650.33, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Trúc D (sinh năm 1994, trú tại thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, là mợ của H). Ngày 19/12/2023, H mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, chị D không biết việc H sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma tuý về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu. Chị D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với các mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1463, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh B cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Đối với người bán ma túy cho H, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý hình sự là có cơ sở.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Xử phạt: Bị cáo Võ Ngọc H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2023 cho đến ngày 28/12/2023.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1463, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh B). (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 102 ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
  • * Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Ngọc H nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo; Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/4/2024).

Nơi nhận:

  • -VKSND tp Phan Thiết;
  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -Công an tp Phan Thiết;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -UBND phường Mũi Né, tp. Phan Thiết, BT;
  • -Chi cục Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • -Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ Tọa Phiên Tòa

PHAN THỊ THÁI

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger