|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 8 - 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Lâm Tới.
- Ông Ngô Văn Cường.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà: Ông Đặng Phương Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 158/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên Tòa số: 100/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Neàng Sây Ních, sinh năm 2000;
- Nơi thường trú: Tổ G, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn: Anh Chau V, sinh năm 1995;
- Nơi cư trú: Tổ B, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
- ( Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 22/5/2024 bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị N1 Sây Ních trình bày:
Chị và anh C Vươnl quen biết tự tìm hiểu, được sự đồng ý hai bên gia đình có tổ chức đám cưới vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, An Giang vào ngày 16/9/2019. Thời gian đầu chung sống vợ, chồng hạnh phúc, khoảng tháng 6/2022 chị và anh V xảy ra mâu thuẫn cãi vã sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị và anh V không có gặp nhau nói chuyện hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh Chau V.
Về con chung: Chị và anh V có 01 con chung tên Chau Sóc R, sinh ngày 25/5/2018 hiện anh V đang nuôi dạy, khi ly hôn, chị đồng ý để cháu R cho anh V1 tiếp tục nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục, chị không cấp dưỡng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn: Anh Chau V, anh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập anh V đến tham dự phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh V vắng mặt không lý do.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- - Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.
- - Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chấp hành chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- + Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh V.
- + Về con chung: Anh V được tiếp tục nuôi dạy con tên Chau Sóc R, sinh ngày 25/5/2018, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác nhận là không có nên không xem xét.
- + Về án phí: Chị N khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Chau V là bị đơn, hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp V, xã V, thị xã T, An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Neàng Sây N2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh Chau V quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa lần thứ nhất và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn anh V. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh V vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung: Chị Neàng Sây N2 cho rằng khoảng năm 2017 chị và anh V được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, An Giang; theo giấy chứng nhận kết hôn số: 86/2019 ngày 16/9/2019. Tại thời điểm kết hôn chị N2 và anh V đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Theo chị N2 cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, khoảng tháng 6/2022 thì chị và anh V phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình giải quyết cũng như trong hòa giải, công bố chứng cứ Tòa án cũng đã phân tích hậu quả của việc ly hôn, tuy nhiên chị N2 cương quyết giữ nguyên yêu cầu là ly hôn với anh V, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đem lại hạnh phúc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N2 được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Chị N2 và anh V có 01 con chung tên Chau Sóc R, sinh ngày 25/5/2018 hiện anh V đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục, khi ly hôn chị đồng ý để cháu R1 cho anh V tiếp tục nuôi dạy chị không cấp dưỡng nuôi con, để đảm bảo tâm sinh lý và cuộc sống bình thường nên giao cháu R cho anh V phù hợp với các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; chị N2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N2 xác nhận là không có nên không xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị N2 khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N1 Sây Ních đối với anh Chau V.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Neàng S Ních được ly hôn với anh Chau V.
- Về con chung: Anh Chau V được trực tiếp nuôi con tên Chau Sóc R, sinh ngày 25/5/2018, chị Neàng S Ních không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị N2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: Chị N2 chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0010930 ngày 27/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Khánh |
Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
