|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS.ST Ngày 12-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Minh Thân
- Ông Nguyễn Tý
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN DUY X, Tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 3 năm 1991, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 04/12; cha: không rõ và mẹ: bà Trần Thị H (chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “tạm giam” từ ngày 25/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Duy X: Ông Chế Giang S - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: số C H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
* Bị hại: Bà Đoàn Thị Sao M, sinh năm 2001; địa chỉ: số B đường H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị Cẩm L, sinh năm 1994; địa chỉ: số K đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
- Ông Hồ Văn H1, sinh năm 1971; địa chỉ: địa chỉ: tổ G, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; địa chỉ: tổ G, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
Người làm chứng:
- Bà Đặng Thị Cẩm L1, sinh năm 2003; địa chỉ: số K đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
- Ông Lê Tự Hoàng T, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 30/01/2018, Nguyễn Duy X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43H5-4615 đi trên đường Đ theo hướng từ cầu vượt ngã 3 Huế về đường H, thành phố Đà Nẵng. Khi đến ngã tư Đ - H thuộc phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Do gặp đèn đỏ, X dừng lại trước nhà số C - C đường Đ, thành phố Đà Nẵng. Lúc này, X nhìn thấy chị Đoàn Thị Sao M điều khiển xe Classico biển kiểm soát 43C1-20972 chở chị Đặng Thị Cẩm L1 có để chiếc điện thoại di động Oppo F3 trong hộc xe phía trước, bên trái nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Xít chạy xe đến gần áp sát xe của chị M từ phía bên trái, dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại rồi điều khiển xe bỏ chạy về hướng H - C - Đ thì bị anh Lê Tự Hoàng T và anh Nguyễn Đức T2 đuổi theo bắt tại số C - C đường Đ, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, người dân điện báo công an phường H đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với X.
Theo bản Kết luận định giá tài sản ngày 02/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu trắng hồng, có giá trị: 4.750.000 đồng (bốn triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 156/KLGĐ ngày 24/01/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T thuộc Bộ Y xác định tình trạng tâm thần của Nguyễn Duy X:
- * Trước thời điểm gây án:
- Kết luận về y học: Rối loạn loạn thần trong Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy, chủ yếu đa dạng (F19.53)
- Rối loại về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- * Tại thời điểm gây án:
- Kết luận về y học: Rối loạn loạn thần trong Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy, chủ yếu đa dạng (F19.53)
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiến hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- * Thời điểm hiện tại:
- Kết luận về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.8)
- Đối tượng cần được điều trị ngoại trú và cách ly ma túy.
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- Vật chứng thu giữ:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thu giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động Oppo F3 màu trắng hồng của chị Đặng Thị Cẩm L; 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream nhãn hiệu Lifan màu nâu, biển kiểm soát 43H5-4615.
Tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 27 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy X về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy X theo như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy X phạm tội “Cướp giật tài sản” và áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy X từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Đối với 01 (một) điện thoại di động Oppo F3 màu trắng, hồng của chị Đặng Thị Cẩm L. Ngày 03/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng đã trả lại điện thoại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Đặng Thị Cẩm L là có căn cứ, đúng pháp luật.
+ 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream nhãn hiệu Lifan màu nâu, biển kiểm soát 43H5- 4615 là phương tiện Xít sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do xe chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Tại phiên toà, người bào chữa của bị cáo Nguyễn Duy X, ông Chế Giang S - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ có ý kiến tranh luận: Xét thấy quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo có nhược điểm về thể chất nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, Luật sư Chế Giang S thống nhất về tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng, về trách nhiệm hình sự xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
Kiểm sát viên có ý kiến đối đáp tranh luận lại đối với người bào chữa: Người bào chữa thống nhất về tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị cáo. Xét nguyên nhân bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi là do bị cáo nhiều lần sử dụng ma túy gây ra. Do đó, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Việc người bào chữa xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định khi nghị án.
Bị cáo Nguyễn Duy X thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên tòa, người bị hại bà Đoàn Thị Sao M; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Cẩm L, ông Hồ Văn H1, bà Nguyễn Thị B; người làm chứng bà Đặng Thị Cẩm L1, ông Lê Tự Hoàng T, ông Nguyễn Đức T1 đều vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng, những người này đã được lấy lời khai và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Duy X đã khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 30/01/2018 tại ngã tư H - Đ trước số nhà C Đ, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Duy X đã có hành vi sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 43H5-4615 áp sát từ phía sau bên trái xe của chị Đoàn Thị Sao M dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại di động Oppo F3 màu trắng, hồng có giá trị 4.750.000 đồng để trong hộc phía trước xe của chị M, rồi nhanh chóng tẩu thoát thì bị người dân phát hiện bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; Biên bản trích xuất camera; vật chứng thu giữ; kết luận định giá tài sản... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Duy X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố bị cáo Nguyễn Duy X với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo Nguyễn Duy X nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ tiềm tàng khả năng gây tổn hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố tình thực hiện. Mục đích của bị cáo nhằm chiếm đoạt được tài sản, bất chấp hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Duy X không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo từng được đưa đi điều trị bệnh tại Bệnh viện Tâm thần thành phố Đ, được chẩn đoán rối loạn loạn thần giống tâm thần phân liệt trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy nên thuộc trường hợp là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy, hành vi của bị cáo X là hết sức nguy hiểm, sử dụng xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ thực hiện hành vi cướp giật tài sản, tiềm tàng khả năng gây tổn hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để làm gương răn đe, giáo dục đối với những người có ý thức pháp luật kém và để bị cáo có thời gian tu dưỡng, rèn luyện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo X là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, năng lực nhận thức và làm chủ hành vi dân sự của bị cáo bị hạn chế nhưng vẫn thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét yêu cầu của người bào chữa của bị cáo về việc áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là không tương xứng với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về việc áp dụng hình phạt là tương xứng với thái độ, hành vi, nhân thân của bị cáo nên cần chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, tài sản bị cướp giật đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Trong quá trình bị cáo Nguyễn Duy X cướp giật tài sản không gây ra thương tích gì cho bà Đoàn Thị Sao M; bà M không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét, giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động Oppo F3 màu trắng, hồng là tài sản hợp pháp của bà Đặng Thị Cẩm L. Ngày 30/01/2018, bà L đưa điện thoại trên cho bà Đoàn Thị Sao M sử dụng để liên lạc với khách hàng thì bị X chiếm đoạt. Ngày 03/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng đã trả lại điện thoại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Đặng Thị Cẩm L là có căn cứ, đúng pháp luật.
+ 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream nhãn hiệu Lifan màu nâu, biển kiểm soát 43H5- 4615 là phương tiện Xít sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, xe do một người thuê trọ (không rõ nhân thân, lai lịch) nhà của X bỏ lại nên X lấy sử dụng. Qua xác minh, xe do anh Hồ Văn H1 (sinh năm: 1971, trú: Tổ G, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu mua năm 2003. Năm 2009, anh H1 bị mắc bệnh tâm thần không ổn định, chị Nguyễn Thị B (sinh năm: 1967) là vợ anh H1 bán xe cho người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) nên hiện không sở hữu chiếc xe trên. Do xe chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Vấn đề khác:
Đối với sự việc ông Hồ Văn H1, bà Nguyễn Thị B là chính chủ xe Dream nhãn hiệu Lifan màu nâu, biển kiểm soát 43H5- 4615, là phương tiện bị cáo X dùng để thực hiện hành vi cướp giật tài sản; ông H1 bị mắc bệnh tâm thần, bà B đã bán lại xe này cho người thu mua phế liệu không rõ nhân thân cả ông H1 và bà B đều không biết việc bị cáo X đã tự ý sử dụng xe máy này lưu thông trên đường với mục đích đi cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông H1, bà B là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy X phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy X 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 25/01/2024).
2. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Duy X phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/6/2024). Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Dũng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 81/2024/HS.ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 81/2024/HS.ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Xít "Cướp giật tài sản"
