Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày 11-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc, bà Hà Thị Thanh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tòng Thanh Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 04/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST- HS ngày 30/5/2024 đối với các bị cáo:

1. Tòng Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 30/10/1995 tại huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký thường trú: Bản T, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 9/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tòng Văn P, sinh năm 1931 và bà Lường Thị Đ, sinh năm 1953; bị cáo có vợ Lường Thị N, sinh năm 2000 và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lường Văn T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/11/2000 tại huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký thường trú: Bản T, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 09/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn Q, sinh năm 1974 và bà Lường Thị Đ, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 10 phút ngày 28/01/2024, khi đang đi bộ tại tại khu vực đường C thuộc tổ B, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, Tòng Văn T đã bị tổ công tác Đội cảnh sát giao thông và trật tự Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang hành vi tàng trữ 01 gói nilon màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai nhận là ma túy Heroine do T và Lường Văn T1 cùng trú tại bản Ta Khoang, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La góp tiền mua về với mục đích để cùng sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tòng Văn T, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Căn cứ lời khai ban đầu của Tòng Văn T, ngày 29/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành triệu tập đối tượng Lường Văn T1 sinh năm 2000, thường trú tại bản T, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La đến Công an thành phố S để làm việc. Quá trình làm việc T1 đã thừa nhận được góp tiền với T để mua ma túy. Trong đó mỗi người góp 250.000đ. Do T1 chưa có tiền nên T đã đồng ý cho T1 vay 250.000đ. Sau đó các bị cáo đã đi tìm mua ma tuý để sử dụng.

Ngày 29/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Tòng Văn T và Lường Văn T1, kết quả: Chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng thu giữ của Tòng Văn T có khối lượng 0,24 gam, lấy 0,11 gam làm mẫu giám định ký hiệu T1. Còn lại 0,13 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu T2.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 131/QĐ-ĐCSKT đối với số vật chứng nghi là ma túy thu giữ trong vụ án. Tại kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,24 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại bản Cáo trạng số 149/CT- VKS ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Tòng Văn T và Lường Văn T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự vì là dân tộc thiểu số sống ở xã C là khu vực kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Tòng Văn T và Lường Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với các bị cáo như sau:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Tòng Văn T từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/01/2024.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Lường Văn T1 từ 13 (mười ba) tháng đến 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 29/01/2024.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
  • - Về vật chứng của vụ án đề nghị áp Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine còn lại thu giữ trong vụ án sau khi đã lấy mẫu gửi giám định.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự: Ngày 28/01/2024, Tòng Văn T rủ Lường Văn T1 mua ma túy về để cùng sử dụng, T và T1 thống nhất mỗi người góp 250.000 đồng để mua ma túy, do T1 chưa có tiền nên T trả tiền mua ma túy trước và khi nào có tiền thì T1 sẽ trả cho T sau. Sau đó T đã mua 0,24 gam Heroine với giá 500.000 đồng, mua được ma túy T đi bộ đón xe đón T1 để cùng sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu vực tổ B, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La.

Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

  • - Lời khai nhận tội của các bị cáo;
  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 15 phút ngày 28/01/2024 tại khu vực tổ B, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Tòng Văn T cùng vật chứng thu giữ 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là H (có tổng khối lượng 0,24 gam Heroine);
  • - Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 600 ngày 29/02/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh S.

Và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Tòng Văn T và Lường Văn T1 có hành vi tàng trữ 0,24 gam heroine mục đích để sử dụng đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

[3.1] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay đều có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Tòng Văn T khi bị bắt quả tang đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, khai báo hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn K, do vậy bị cáo T còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

[3.4] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt. Trước lần phạm tội chưa bị xét xử về hành vi phạm tội nào khác và chưa bị xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

[3.5] Xét vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm ở thể giản đơn, trong đó: bị cáo Tòng Văn T là người rủ rê, lôi kéo Lường Văn T1 cùng tham gia mua ma tuý để sử dụng, cho Lường Văn T1 vay tiền, chủ động hỏi và tìm nơi mua ma tuý, trực tiếp thuê xe, trực tiếp trao đổi mua ma tuý, giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Lường Văn T1 sau khi được Tòng Văn T rủ rê cùng mua ma tuý về sử dụng đã nhất trí, dù không có tiền nhưng đề nghị Tòng Văn T cho vay tiền để góp cùng T mua ma tuý, giữ vai trò là người thực hành tích cực trong vụ án.

Từ những đánh giá và nhận định nêu trên, HĐXX thấy rằng: Bị cáo Tòng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma tuý là 0.24 gam heroine, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 do vậy cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, xử phạt bị cáo Tòng Văn T mức án 15 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo Lường Văn T1 phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma tuý là 0.24 gam heroine,có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, cần xem xét xử phạt bị cáo ở mức mức án 14 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về nguồn gốc 0,24 gam Heroine bị thu giữ, Tòng Văn T khai là một người đàn ông (không biết địa chỉ cụ thể) với giá 500.000 đồng ở khu vực tổ B, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,13 gam Heroine còn lại sau khi giám định cùng phong bì niêm phong xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đề nghị miễn án phí, được Hội đồng xét xử xét, chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Lường Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

    Xử phạt bị cáo Lường Văn T1 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

  2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; mẫu lưu ký hiệu T2 = 0,13 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 042451 của Công an thành phố S).

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/05/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn T và Lường Văn T1.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 11/06/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phạm Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn Tiên + Lường Văn Thương TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger