|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày: 11-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bền .
- Ông Nguyễn Văn Y.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Liễu Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST- HS, ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng N, sinh ngày 08/3/1993. Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: sửa điện thoại; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng Q và bà Trần Thị P; bị cáo sống chung như vợ chồng với Trần Thị Trúc P1 và chưa có con; Nhân thân:
- + Ngày 15/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số 93/2017/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/5/2018, đã xóa án tích.
- + Ngày 19/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 27/2019/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 22/5/2020;
- tiền án: Không; tiền sự: 02 lần:
- + Ngày 05/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 51/2021/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 27/4/2023.
- + Ngày 20/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định 37/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện
bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chưa chấp hành quyết định; Bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 22/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- - Trần Thị Trúc P1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- - Phan Thị N1, sinh năm 1954. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đăng N là người nghiện ma túy. Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, N mượn xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) của người tên “Ba Búa” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đi từ quán cà phê không tên thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang gặp một người nữ tên XuKa (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 250.000 đồng. Sau khi lấy ma túy, N điều khiển xe mô tô về trả cho “Ba Búa”, rồi về nơi thuê ở trọ tại phòng số 18 (nhà trọ do bà Phan Thị N1 làm chủ). Nguyên bỏ gói nylon chứa ma túy vào một hộp nhựa tròn màu trắng - hồng đặt dưới nền gạch trong phòng trọ. Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đến kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Nguyên tàng trữ trái phép chất ma tuý cùng vật chứng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 11 giờ 20 phút ngày 22/01/2024 ghi nhận: Hướng Nam tiếp giáp đường đá công cộng; hướng Đông tiếp giáp phần đất trống của bà Phạm Thị N2; hướng Tây tiếp giáp phần đất trống của người dân. Phòng trọ số 18 có kích thước (4,9 x 3,7) mét, phòng có một cửa chính ra vào, ký hiệu (A) trong sơ đồ. Từ cửa chính (A) đi về hướng Tây 2,1 mét, sau đó đi vuông góc về hướng Bắc 1,98 mét kiểm tra khu vực trên nền gạch có một hộp nhựa tròn màu trắng kích thước ( 0,7 x 5,5) cm, ký hiệu (B), phía bên ngoài có ghi chữ Bạch Ngọc L, bên trong có gói nylon màu trắng được hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; cạnh hộp nhựa tròn màu trắng này là bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Vật chứng, đồ vật thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- - 01 (một) túi nylon màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được niêm phong trong một bì thư, bên ngoài bì thư có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Đăng N.
- - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
- - 01 (một) hộp nhựa tròn, màu trắng - hồng có in chữ Bạch Ngọc L.
Tại Kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
- - Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2608 gam, loại Methamphetamine.
- - H lại đối tượng giám định: Các mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,2309 gam; được niêm phong trong 01 (một) bì thư ký hiệu vụ số: 12 ghi ngày 23 tháng 01 năm 2024.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSCT ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Đăng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng N từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) hộp nhựa tròn, màu trắng - hồng có in chữ Bạch Ngọc L; 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 12 ghi ngày 23 tháng 01 năm 2024; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thanh T (Giám định viên – Bên giao), Nguyễn Quốc P2 (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Phương T1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG.
Bị cáo Nguyễn Đăng Nguyên khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo N nói lời sau cùng: bị cáo biết mình đã sai, hứa không tái phạm. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 22/01/2024, tại phòng trọ số A thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Đăng N có hành vi tàng trữ trái phép 0,2608 gam ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương, gây tâm lý hoang mang cho nhiều người; bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện, làm mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, nó là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, làm suy đồi giá trị đạo đức truyền thống, làm tha hóa lối sống thế hệ thanh thiếu niên. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức được rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Trước lần phạm tội này, bị cáo có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5] Theo lời khai N mượn xe mô tô của người tên “Ba Búa” (không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ) nhưng không nói cho “Ba B” biết N dùng xe mô tô này đến gặp người tên “Xuka” (không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ) mua ma túy tại khu vực quán  thuộc ấp T, xã T, huyện C. Do không xác định được nhân thân, lai lịch người tên “Ba Búa” và người tên “Xuka” nên không tiến hành làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục xác minh nếu có hành vi phạm tội sẽ xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.
[6] Đối với hành vi tàng trữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của bị cáo là chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy, chưa bị kết án về tội này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
[7] Bị cáo N mua ma tuý về cất giấu tại phòng trọ số 18 để sử dụng thì bà Phan Thị N1 và chị Trần Thị Trúc P1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà N1 và chị P1 là có căn cứ.
[8] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22/01/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 12 ghi ngày 23 tháng 01 năm 2024; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thanh T (Giám định viên – Bên giao), Nguyễn Quốc P2 (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Phương T1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) hộp nhựa tròn, màu trắng - hồng có in chữ Bạch Ngọc L (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Vân Trang |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng Nguyên - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
