|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày: 10/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Chí Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Hưng - Giáo viên và bà Nguyễn Thị Hảo - Giáo viên nghỉ hưu
Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Vũ Thanh H (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 27/12/1995, tại H, Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ B, khu D, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: thôn I, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Hữu T và bà Vũ Thị T1. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: chưa có.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/4/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Duy Đ (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 09/02/2002, tại H, Thái Bình. Nơi thường trú: tổ dân phố M, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị T2. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: chưa có.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/4/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Hoàng Thị H1 (tên gọi khác: không), giới tính: nữ, sinh ngày 19/8/2006, tại T, Nam Định. Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Chỗ ở: thôn I, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn lớp: 10/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Hoàng Văn N và bà Trần Thị T3. Chồng, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: chưa có.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/4/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Bùi Thị H2 (tên gọi khác: không), giới tính: nữ, sinh ngày 11/3/2001, tại M, Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 11/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Bùi Duy K và bà Nguyễn Thị H3. Chồng: chưa có, bị cáo có 01 con sinh ngày 26/01/2023.
Tiền án, tiền sự: chưa có.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/4/2024, tạm giữ đến ngày 18/4/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Ngọc L (tên gọi khác: không), giới tính: nữ, sinh ngày 08/7/1997, tại thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú: khối A, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 11/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Phạm Văn H4 và bà Đào Thị X. Chồng, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: chưa có.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/4/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn H5 (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 22/6/2004, tại M, Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 09/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Tăng Thị Đặng . Vợ, con: chưa có.
Tiền án: ngày 17/9/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 48 tháng tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 24/9/2023 chấp hành xong án phạt tù.
Tiền sự: chưa có.
Bị cáo đầu thú ngày 09/4/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa
-
Họ và tên: Phí Công T5 (tên gọi khác: không), giới tính: nam; sinh ngày 08/7/1995, tại huyện K, tỉnh Hải Dương. Nơi thường trú: khu B, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Phí Văn N1 (đã chết) và bà Đoàn Thị N2. Vợ: Chu Kim N3, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/7/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị H1: bà Khương Thị S - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Thị H1: bà Trần Thị T3, sinh năm, 1983. Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Có mặt.
- Những người chứng kiến: Nguyễn Trí C, Nguyễn Quang K1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, sau khi làm phục vụ tại quán L1 thuộc thôn A, xã H, thành phố M về và đi ăn đêm đến khoảng 04 giờ cùng ngày thì Nguyễn Vũ Thanh H rủ Nguyễn Duy Đ, Hoàng Thị H1 (sinh ngày 19/8/2006) và Bùi Thị H2 về phòng trọ của Đ tại thôn A, xã H, thành phố M để sử dụng ma túy, mọi người đồng ý. Đ nói với mọi người là cùng nhau góp tiền mỗi người 1.150.000 đồng để mua ma túy “ke” và thuốc lắc “kẹo” để mọi người sử dụng. H là người ứng tiền ra trước (H1 và H2 hẹn hôm sau sẽ trả) H đồng ý, Đ đã đưa cho H số tiền 1.150.000 đồng. Sau khi về đến phòng trọ của Đ, H gọi điện thoại cho Phạm Ngọc L hỏi mua ma túy, L đồng ý. Sau khi thống nhất với L về việc mua 01 túi ma túy “ke” với giá 1.800.000 đồng và 02 viên ma túy thuốc lắc “kẹo” với giá 500.000 đồng/01 viên, L gọi cho Nguyễn Văn H5 hỏi mua số ma túy trên và được H5 báo giá 01 túi ma túy “ke” là 1.600.000 đồng và 02 viên ma túy thuốc lắc “kẹo” với giá là 500.000 đồng/01 viên, tổng số tiền là 2.600.000 đồng. Sau khi thống nhất với H5 xong, H5 gửi số tài khoản của mình cho L để L chuyển cho H và yêu cầu H chuyển 2.800.000 đồng vào tài khoản của H5 để L được hưởng 200.000 đồng (H5 chuyển lại cho L). Sau khi thống nhất với L và nhận được tiền chuyển khoản từ H. H5 cũng có ý định sử dụng ma túy nên đã gọi điện cho Phí Công T5 để đặt mua 04 túi ma túy “ke” và 02 viên ma túy thuốc lắc “kẹo” (trong đó có 03 túi ma túy “Ke” Hiếu để sử dụng). T5 báo giá 04 túi ma túy “ke” là 6.400.000đ, 02 viên ma túy thuốc lắc “kẹo” là 800.000đ, H5 đồng ý và cùng hẹn nhau đến địa điểm giao dịch ở gần công ty T thuộc khu G, phường H, thành phố M. Tại địa điểm trên H5 đưa cho T5 800.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản cho T5 6.400.000 đồng rồi nhận ma túy mang về giao lại cho L.
Sau khi nhận được ma túy từ L do thấy ít nên H nói với Đ, H1 và H2 mua thêm ma túy thì mọi người đồng ý. Ngay sau đó H lại gọi điện cho L mua thêm 01 túi ma túy “ke” với giá 1.800.000 đồng và chuyển tiền vào số tài khoản của H5 (sau khi nhận tiền H5 chuyển cho L 200.000 đồng) và nhắn tin cho T5 để mua thêm 01 túi ma túy “ke” với giá 1.500.000đ (H5 chuyển khoản cho T5). Sau khi nhận được ma túy H5 giao lại cho L rồi đi về nhà và sử dụng hết 03 túi ma túy “ke” đã mua trước đó của T5. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày H nhận được ma túy từ L rồi bẻ một viên thuốc lắc ra dùng một nửa và H2 dùng một nửa, Đ và H1 cũng dùng mỗi người một nửa. Sau khi sử dụng thuốc lắc xong, H1 đổ một ít ma túy “ke” ra tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, rồi dùng bật lửa nghiền nhỏ và dùng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn thành ống hút để sử dụng. Đan đổ ma túy “ke” còn lại vào đĩa sứ màu trắng rồi dùng thẻ căn cước công dân đánh mịn ma túy ra chia thành nhiều đường nhỏ để tất cả lần lượt cùng sử dụng trên đĩa, đến khoảng 07 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ ma túy “ke” trên đĩa sứ (ký hiệu M1), 01 căn cước công dân của Đ, 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng có bám dính chất bột màu trắng, 01 túi nin lon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa, kích thước khoảng (3x3) cm, bên trong túi bán dính chất tinh thể màu trắng dạng vết (ký hiệu M2, M3, M4, M5), 01 chiếc cốc sứ màu trắng bên trong chứa chất lỏng màu nâu, 01 chai nhựa trong suốt, bên trong chai chứa chất lỏng màu nâu (ký hiệu M6); 01 chiếc đèn nháy, 01 chiếc loa màu đen nhãn hiệu “harman/kadon”. Ngoài ra tạm giữ của Nguyễn Vũ Thanh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0396271295, số tiền 600.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100CNY. Tạm giữ của Nguyễn Duy Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0335970759. Tạm giữ của Bùi Thị H2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0784090222. Tạm giữ của Phạm Ngọc L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng, lắp sim số 0942798331.
Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Ngọc L, tại Cơ quan điều tra L thừa nhận về việc mua ma túy từ H5 rồi bán lại cho H để được hưởng lợi nhuận hai lần là 400.000 đồng. Đối với Nguyễn Văn H5 sau khi biết L đã bị bắt cùng ngày H5 đến Công an thành phố M đầu thú và khai nhận việc bán ma túy cho L phù hợp với lời khai của L.
Đối với Phí Công T5 đến khoảng 07 giờ ngày 09/7/2024, T5 đang ở nhà một mình thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ trong tủ quần áo cá nhân của T5 01 hộp bìa cát tông là vỏ hộp đựng điện thoại bên trong có 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng là ma túy Ketamine có khối lượng 8,349gam; 01 cân điện tử và 51 vỏ túi nilon trong suốt, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi, màu đen, đã qua sử dụng. Nguồn gốc số ma túy trên T5 mua của đối tượng tên K2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 17.000.000 đồng mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu ngày 09/4/20024 đối với Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ, Hoàng Thị H1 và Bùi Thị H2 đều dương tính với A và M.
Bản kết luận giám định số 504/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Q kết luận: kết quả giám định ma túy trong 05 mẫu nước tiểu như sau: Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Vũ Thanh H, Hoàng Thị H1 và Bùi Thị H2 tìm thấy trong nước tiểu có MDMA và D1; Phạm Ngọc L trong nước tiểu có Dehydronorketamine.
Bản kết luận giám định số 503/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật thu giữ của Nguyễn Vũ Thanh H cùng đồng phạm như sau: mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M5 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine khối lượng như sau:
- + M1: 0,482gam (không phẩy bốn tám hai gam);
- + M2, M3, M4, M5: dạng vết không xác định được khối lượng.
Mẫu vật ký hiệu M6 gửi giám định có thể tích: 05ml (năm mililit), tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA. H6 lại mẫu vật giám định M1: 0,43gam, 01 đĩa sứ hình tròn đường kính 20,5cm, 01 tờ tiền Việt Nam loại 20.000 đồng mã số hiệu OF 213434429, 01 tờ tiền Việt Nam loại 2000 đồng mã số hiệu GO 2906137.
Biên bản ghi nhận kết quả test nhanh ma túy đối với Phí Công T5 tại Công an thành phố M dương tính với 03 loại trên que test: MET, MDMA, KET.
Bản kết luận giám định số 1075/KLGĐ ngày 15/7/2024, của Phòng K3 Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật thu giữ của Phí Công T5 kí hiệu M gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng 8,349gam (tám phẩy ba bốn chín gam).
Quá trình điều tra Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ, Hoàng Thị H1, Bùi Thị H2, Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5 và Phí Công T5 đều khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Người làm chứng ông Nguyễn Quang K1 có lời khai: hồi 07 giờ 00 phút ngày 09/7/2024, ông được Công an thành phố M mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính nơi ở của Phí Công T5, sinh năm 1995. Nơi thường trú: thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện bắt quả tang Phí Công T5 có hành vi cất giấu chất ma túy để sử dụng và bán trái phép cho người khác. Thu giữ trong tủ quần áo cá nhân của T5 01 (một) bìa cát tông là vỏ hộp đựng điện thoại, bên trong có 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) cân điện tử và 51 (năm mươi mốt) vỏ túi nilon trong suốt; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Remi, màu đen. T5 khai chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine.
Người chứng kiến anh Nguyễn Trí C có lời khai: anh là chủ nhà trọ số 73, thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/4/2024 anh đang ở nhà thì thấy lực lượng Công an thành phố đến kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện tại phòng trọ ở tầng 2 có 04 người khai tên Nguyễn Duy Đ, Nguyễn Vũ Thanh H, Hoàng Thị H1 và Bùi Thị H2. Lực lượng Công an thu giữ 01 đĩa sứ bên trên đĩa có chất bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và một số đồ vật, tài liệu khác. Cả 04 người khai nhận chất bột màu trắng trên đĩa là ma túy “ke” và cả 04 người vừa sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố M lập hồi 07 giờ 30 phút ngày 09/7/2024 thể hiện: hồi 07 giờ 00 phút ngày 09/7/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố M phối hợp Công an xã H, thành phố M, tiến hành kiểm tra hành chính nơi ở của Phí Công T5, sinh năm 1995. Nơi thường trú: thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện bắt quả tang Phí Công T5 có hành vi cất giấu chất ma túy để sử dụng và bán trái phép cho người khác. Thu giữ trong tủ quần áo cá nhân của T5 01 (một) hộp bìa cát tông là vỏ hộp đựng điện thoại, bên trong có 01 (một) túi nilon chứa ma túy loại Ketamine, 01 (một) cân điện tử và 51 (năm mươi mốt) vỏ túi nilon trong suốt, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Remi màu đen, đã qua sử dụng, số Imeil 1: 086949069949904, số Imeil 2: 860949069949912 bên trong gắn sim số 038.358328 và 0379.752.204.
Tại biên bản nhận dạng do Công an thành phố M lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 02/7/2024 giữa người nhận dạng là Nguyễn Văn H5 và người bị nhận dạng là Phí Công T5 (ảnh số 4). H5 khẳng định người bán ma túy cho H5 02 lần vào rạng sáng ngày 09/4/2024 và ngược lại T5 cũng nhận dạng người mua ma túy của T5 vào rạng sáng ngày 09/4/2024 là H5.
Bản cáo trạng số 1377/CT-VKSMC ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ và Bùi Thị H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5 và Phí Công T5 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ và Bùi Thị H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5 và Phí Công T5 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: điểm b, c khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- +) Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- +) Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024;.
- +) Xử phạt bị cáo Bùi Thị H2 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ đi những ngày tạm giam 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91, Điều 101, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị Hiền t 05 năm đến 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- +) Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- +) Xử phạt bị cáo Phí Công T5 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H5 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- +) T6 tịch thu cho tiêu hủy 01(một) phong bì số 1075/KLGĐ-KTHS. Mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 1075 ngày 16/4/2024; 01 (một) phong bì số 503/KLGĐ-KTHS (số B) mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 503 ngày 16/4/2024; 01(một) phong bì số 503/KLGĐ-KTHS (số A) mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 503 ngày 16/4/2024; 01 chiếc đén nháy; 01 chiếc cốc sứ trắng; 01 cân điện tử màu xanh, đã qua sử dụng; 01 túi nilon trong suốt, kích thước (8x 11,5)cm, bên trong túi chứa 51 (năm mươi mốt) vỏ túi nilon trong suốt đều có kích thước (3x3) cm; 01 hộp bìa cát tông, màu trắng; sim điện thoại số 0396.271.xxx, số C, số 0942798331; sim số 038.358328 và 0379.752.204; sim số 0784090222
- +) Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Remi, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc loa màu đen, nhãn hiệu “Harman/kadon”.
- Trả lại cho Nguyễn Vũ Thanh H số tiền 600.000 đồng và 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 100CNY (được niêm phong gửi kho bạc theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 05/BBBQ-CSĐT ngày 02/5/2024 giữa kho bạc Nhà nước M và Công an thành phố M) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Đ 01 thẻ căn cước số [...] mang tên Nguyễn Duy Đ.
- Buộc bị cáo Phí Công T5 phải nộp số tiền 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng), bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Văn H5 phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Phần tranh luận: các bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ và Bùi Thị H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5 và Phí Công T5 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về tội danh: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ, Bùi Thị H2, Hoàng Thị H1, Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5 và Phí Công T5 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
Như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng vụ án, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 07 giờ 20 phút ngày 09/4/2024 tại phòng trọ của Nguyễn Duy Đ thuộc thôn A xã H, thành phố M Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ, Hoàng Thị H1 và Bùi Thị H2 có hành vi cùng nhau góp tiền để H mua ma túy của Phạm Ngọc L sau đó H, Đ, H1 và H2 cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt giữ.
Phạm Ngọc L có hành vi mua của Nguyễn Văn H5 02 túi ma túy Ketamine với giá 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng) và 02 viên ma túy (thuốc lắc) MDMA với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Tổng số tiền là 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng) rồi bán lại cho H 02 túi ma túy Ketamine với giá 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) và 02 viên ma túy (thuốc lắc) MDMA với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Nguyễn Văn H5 có hành vi mua của Phí Công T5 05 túi ma túy Ketamine với giá là 7.900.000 đồng (bảy triệu chín trăm nghìn đồng) và 02 viên ma túy (thuốc lắc) MDMA với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) tổng số tiền là 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng) rồi bán lại cho Phạm Ngọc L 02 túi ma túy Ketamine và 02 viên ma túy (thuốc lắc) MDMA với giá như trên, còn 03 túi ma túy Ketamine H7 đã sử dụng hết.
Phí Công Tuấn ngày 09/4/2024 có hành vi bán cho Nguyễn Văn H5 05 túi ma túy Ketamine với giá là 7.900.000 đồng (bảy triệu chín trăm nghìn đồng) và 02 viên “thuốc lắc” với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) tổng số tiền là 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng). Ngoài ra ngày 09/7/2024, T5 có hành vi cất giấu 8,349gam Ketamine tại nơi ở mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang.
[4] Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ và Bùi Thị H2 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị H1 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5 và Phí Công T5 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;”...
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;”...
[5] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo:
Ma túy là một loại độc dược rất nguy hiểm, nó tàn phá, hủy hoại sức khỏe, nhân cách và tính mạng con người, làm lây truyền các căn bệnh hiểm nghèo và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Nhà nước quy định độc quyền quản lý chất ma túy, bất cứ ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị.
Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ và Bùi Thị H2 là người đã trưởng thành, bị cáo Hoàng Thị H1 là người chưa thành niên nhưng đều nhận thức được tác hại của ma túy và điều cấm của pháp luật. Nhưng do tu dưỡng, rèn luyện bản thân kém, bất chấp điều cấm của pháp luật nên đã bàn bạc góp tiền để tìm mua ma túy để tổ chức sử dụng cho bản thân. Các bị cáo Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5 và Phí Công T5 nhận thức được tác hại của ma túy và điều cấm của pháp luật nhưng do tham lam, hám lợi nên đã có hành vi bán trái phép chất ma túy để thu lời bất chính. Hành vi của các bị cáo không những vi phạm quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo các bị cáo trở thành người tốt.
[5] Xét về vai trò: đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự phân công cụ thể.
- Về nhóm sử dụng trái phép chất ma túy: bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H giữ vai trò chính, bị cáo là người khởi xướng việc góp tiền mua ma túy để cả nhóm sử dụng, H là người ứng tiền ra để mua ma túy và trực tiếp liên hệ mua ma túy của Phạm Ngọc L. Do đó, H phải chịu hình phạt cáo hơn các bị cáo Đ, H2 và H1. Tiếp đến bị cáo Nguyễn Duy Đ là người đã dùng phòng trọ của mình và chuẩn bị đĩa sứ, thẻ cứng, đèn nháy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân Đ đã bỏ ra số tiền 1.150.000 đồng để đưa cho H mua ma túy nên Đ đứng sau vị trí của H. Các bị cáo H2 và H1 có vai trò đồng phạm trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với H và Đ nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình, nhưng thấp hơn H và Đ.
- Về nhóm mua bán trái phép chất ma túy: bị cáo L, H5 và T5 đều có vai trò ngang nhau vì khi được H đặt vấn đề mua ma túy thì L gọi điện cho H5 bàn bạc việc mua ma túy bán cho H để hưởng lợi, H5 liên hệ mua ma túy của T5. Do đó, H5, L, T5 có vai trò ngang nhau. Nhưng xét H5 phạm tội trong trường hợp tái phạm, T5 ngoài hành vi bán trái phép ma túy cho H5 còn tàng trữ số lượng lớn ma túy nên T5, H5 phải chịu mức hình phạt cáo hơn L.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
- Tình tiết tăng nặng: bị cáo Nguyễn Văn H5 phạm tội trong trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ, Bùi Thị H2, Hoàng Thị H1, Phạm Ngọc L và Phí Công T5 có nhân thân tốt, tiền án tiền sự chưa có. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thị H1 là người chưa thành niên nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn H5 sau khi phạm tội có ý thức ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, còn có thể phạt các bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước nhưng xét các bị cáo không nghề nghiệp ổn định, bị cáo H1 là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) phong bì số 1075/KLGĐ-KTHS mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 1075 ngày 16/4/2024; 01 (một) phong bì số 503/KLGĐ-KTHS (số B) mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 503 ngày 16/4/2024; 01 (một) phong bì số 503/KLGĐ-KTHS (số A) mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 503 ngày 16/4/2024; 01 chiếc đèn nháy; 01 chiếc cốc sứ trắng; 01 cân điện tử màu xanh, đã qua sử dụng; 01 túi nilon trong suốt, kích thước (8x 11,5) cm, bên trong túi chứa 51 (năm mươi mốt) vỏ túi nilon trong suốt đều có kích thước (3x3) cm; 01 hộp bìa cát tông, màu trắng; sim điện thoại số 0396.271.xxx, sim số 0335970759, sim số 0942798331; sim số 038.358328; sim số 0379.752.204 và sim số 0784090222
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Remi, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc loa, màu đen, nhãn hiệu “Harman/kadon". Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa làm rõ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra còn thu của Nguyễn Vũ Thanh H số tiền 600.000 đồng và 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 100CNY (được niêm phong gửi Kho bạc theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 05/BBBQ-CSĐT ngày 02/5/2024 giữa kho bạc Nhà nước M1 và Công an thành phố M). Xét bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra thu giữ 01 thẻ căn cước số [...] mang tên Nguyễn Duy Đ. Xét đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo Đ nên trả lại cho bị cáo.
Ngoài ra còn truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính từ việc mua bán ma túy của bị cáo Phí Công T5 số tiền 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng), bị cáo Phạm Ngọc L số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Văn H5 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Đối với những sim điện thoại số 0396.271.xxx, số 0335970759, số 0942798331, số 038.358328, số 0379.752.204, số 0784090222. Xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Các tình tiết khác của vụ án: liên quan trong vụ án có đối tượng tên K2 bán ma túy cho Phí Công T5, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H5 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Phí Công T5 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Duy Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Bùi Thị H2 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được trừ đi những ngày tạm giữ từ 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024).
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Hoàng Thị H1 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
- - Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- +) T6 tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì số 1075/KLGĐ-KTHS, mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 1075 ngày 16/4/2024; 01 (một) phong bì số 503/KLGĐ-KTHS (số B), mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 503 ngày 16/4/2024; 01 (một) phong bì số 503/KLGĐ-KTHS (số A), mẫu vật hoàn lại sau giám định theo kết luật giám định số 503 ngày 16/4/2024; 01 chiếc đén nháy; 01 chiếc cốc sứ trắng; 01 cân điện tử màu xanh, đã qua sử dụng; 01 túi nilon trong suốt, kích thước (8x 11,5) cm, bên trong túi chứa 51 (năm mươi mốt) vỏ túi nilon trong suốt đều có kích thước (3x3) cm; 01 hộp bìa cát tông, màu trắng; sim điện thoại số 0396.271.xxx, sim số 0335970759, sim số 0942798331; sim số 038.358328; sim số 0379.752.204 và sim số 0784090222
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Remi, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc loa, màu đen, nhãn hiệu “Harman/kadon”.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H số tiền 600.000 đồng và 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 100CNY (được niêm phong gửi Kho bạc theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 05/BBBQ-CSĐT ngày 02/5/2024 giữa kho bạc Nhà nước M1 và Công an thành phố M).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Đ 01 thẻ căn cước số [...] mang tên Nguyễn Duy Đ.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 của Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
- Buộc bị cáo Phí Công T5 phải nộp số tiền 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng), bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Văn H5 phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), sung Ngân sách Nhà nước.
- - Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 - Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Vũ Thanh H, Nguyễn Duy Đ, Hoàng Thị H1, Bùi Thị H2, Phạm Ngọc L, Nguyễn Văn H5, Phí Công T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
