Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 81/2024/DS-ST

Ngày: 10 - 6 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

Với thành phần Hội đồng xét xử:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trung và ông Dương Thanh Trung.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Y Kăn Niê là Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 303/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXX – ST, ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Đinh Văn V, bà Nguyễn Thị Thu P.

Địa chỉ: Số A T, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Hải A. Địa chỉ: Số F Bà T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt

* Bị đơn: Ông Ngô Văn T.

Địa chỉ: Số A N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk -Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn khởi kiện; quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 08/12/2022, vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P có bán chiếc xe ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 cho ông Ngô Văn T với số tiền là 470.000.000₫ (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng). Ông T trả trước 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng) và vợ chồng ông V và bà P đã giao chiếc xe trên cho ông T sử dụng kèm theo giấy đăng kiểm xe, giấy đăng ký xe (photo công chứng) và bảo hiểm xe. Chiếc xe này vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P đã thế chấp theo Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số: 5560768.20 ngày 23/12/2020 tại Ngân hàng TMCP Q Chi nhánh T1 để vay số tiền là: 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng). Vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P thỏa thuận, trong vòng một tuần, ông T sẽ thay mặt vợ chồng ông V và bà P trả số tiền còn nợ lại Ngân hàng là:

390.000.000 đồng và lấy lại giấy tờ xe để tiến hành thủ tục mua bán xe tại Văn phòng Công chứng.

Đến ngày 27/12/2022, vợ chồng ông V và bà P có làm giấy ủy quyền cho ông T tại Văn phòng C, khu phố A, phường D với nội dung: Anh T sẽ thay mặt vợ chồng ông V và bà P liên hệ ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh T1 – Phòng G thanh toán số tiền 390.000.000 (Ba trăm chín mươi triệu đồng) cho ngân hàng để lấy giấy đăng ký xe. Giấy ủy quyền có thời hạn đến ngày 03/01/2023.

Đến ngày 03/01/2023, vợ chồng ông V và bà P gọi điện cho ông T thì ông T nói trong ngày ông sẽ đến ngân hàng làm việc nhưng đến hết ngày vẫn chưa thấy ông T liên hệ. Từ ngày 04/01/2023 đến nay vợ chồng ông V và bà P đã nhắn tin và gọi điện nhiều lần nhưng vẫn không thấy ông T trả lời. Ông Ngô Văn T đã nhận xe của vợ chồng ông V và bà P sử dụng từ ngày 08/12/2022 đến nay nhưng không thực hiện đúng cam kết, không hoàn trả số tiền còn lại cho ngân hàng. Vợ chồng ông V và bà P thực sự khó khăn khi hàng tháng phải trả lãi suất cho ngân hàng và không có phương tiện để sử dụng. Vì ông Ngô Văn T không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng như thỏa thuận nên ngày 06/3/2023 ông V và bà P đã huy động tiền của gia đình để tất toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số: 5560768.20 ngày 23/12/2020 cho Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T1 và lấy lại giấy tờ xe.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây: Tuyên buộc ông Ngô Văn T trả cho vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P số tiền nợ mua xe và tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán theo giấy bán xe ngày 08/12/2022 là: 424.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm hai mươi bốn triệu đồng). Trong đó: Nợ gốc: 400.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán, tạm tính từ ngày 03/01/2023 đến ngày 10/8/2023 là: 400.000.000 đồng x 10%/năm x 219 ngày = 24.000.000 đồng. Vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P sẽ giao lại giấy tờ xe sau khi ông Ngô Văn T thanh toán đủ số tiền nợ mua xe và tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện: Đề nghị tuyên bố hợp đồng mua bán xe ngày 08/12/2022 giữa vợ chồng ông V và ông T vô hiệu, đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và đề nghị Tòa án tính giá trị khấu hao chiếc xe trên từ lúc ông T nhận sử dụng từ năm 2022 đến nay.

  1. Đối với bị đơn ông Ngô Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột phát biểu như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của BLTTDS, tại phiên tòa HĐXX và đương sự đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật;

Về nội dung: Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma thuột đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Tuyên hợp đồng mua bán xe ngày 08/12/2022 giữa ông Đinh Văn V, bà Nguyễn Thị Thu P và ông Ngô Văn T đối với ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 được Phòng C1 công an tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 035776 ngày 22/12/2020 đứng tên ông Đinh Văn V là vô hiệu. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và giá trị khấu hao xe cho vợ chồng ông V, bà P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại Điều 26, Điều 35 BLTTDS.
  2. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
  3. Về nội dung vụ án:

Ngày 23/12/2020 vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P thế chấp 01 chiếc xe ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 tại Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T1 để vay số tiền là: 440.000.000đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng). Ông V, bà P còn nợ Ngân hàng số tiền là: 390.000.000 đồng.

Vào ngày 08/12/2022, vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P bán chiếc xe ô tô trên cho ông Ngô Văn T với số tiền là 470.000.000đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng), ông T đã trả trước cho vợ chồng ông V số tiền 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng) và vợ chồng ông V đã giao chiếc xe trên cho ông T sử dụng kèm theo giấy đăng kiểm xe, giấy đăng ký xe (photo công chứng) và bảo hiểm xe. Hai bên không tiến hành lập hợp đồng mua bán công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Đến ngày 27/12/2022, vợ chồng ông V và bà P có làm giấy ủy quyền cho ông T tại Văn phòng C, khu phố A, phường D với nội dung: Anh T sẽ thay mặt vợ chồng ông V và bà P liên hệ ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh T1 – Phòng G thanh toán số tiền 390.000.000đồng (Ba trăm chín mươi triệu đồng) cho ngân hàng để lấy giấy đăng ký xe. Giấy ủy quyền có thời hạn đến ngày 03/01/2023. Đến nay ông T không thực hiện như cam kết nên vợ chồng ông V khởi kiện ông T đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán xe trên vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Đinh Văn V được Phòng C1 công an tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 035776 ngày 22/12/2020, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 đến ngày 23/12/2020 vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P thế chấp chiếc xe trên tại Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T1 để vay số tiền là: 440.000.000đồng. Theo đơn đơn khởi kiện của vợ chồng ông V, bà P cho rằng bán chiếc xe trên cho ông T, hai bên thiết lập hợp đồng bằng miệng, thông qua zalo tin nhắn số điện thoại của ông T 0949.882.xxx, địa chỉ: A N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập thông tin tra cứu thuê bao tại tập đoàn V1 đối với thuê bao 0949.882.626.

Tại công văn số 8618/VNPT-PCTT-TL ngày 13/11/2023 của Tập đoàn V1 cung cấp: Thuê bao 0949.882.626 là: Ngô Văn T, CCCD số [...], do Bộ CA cấp ngày 30/3/2021; Địa chỉ thường trú: Số A N, T, TP B, Đ. Ngày khách hàng 12/3/2008; Thuê bao hiện nay đang hoạt động.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cung cấp vi bằng số 313/2023/VP-TPLTV ngày 01/3/2023 tại Văn phòng T2 để ghi nhận các tin nhắn giữa số thuê bao 0949.882.626 mang tên Tinh P1 và ông Đinh Văn V thuê bao 0922.113.688. Nội dung tin nhắn:

Bút lục 29: Thể hiện vào lúc 18:17, CN, 18 tháng 12: “Ông V nhắn: A ơi thiện chí lấy xe thì anh báo chốt ngày chuyển nốt tiền cho e còn ko thì a trả lại xe để em bán cho ng khác chứ jo xe a giữ xong tiền a cũng ko chuyển cũng ko chốt ngày nào làm việc cho dứt khoát gọi a bao cuộc ko nghe..... còn a ko mua nữa thì a mang xe về cho e e trả lại cọc.....”

Bút lục 27: Vào lúc 11:58, Th5, ngày 22 tháng 12 ông T nhắn: “E lấy đăng ký ra công chứng a trả thêm 10 tr... Để công chứng song a thanh toán đử”

Ông V nhắn: “e ko giao dịch được như này đâu a ak, e ko tất toán cho ngân hàng đc e mới phải bán để trả nợ ngân hàng, ae giờ theo hợp đồng cũ thôi dc thì a hoàn tất thủ tục mua bán ko thì trong tuần này a đưa xe về trả cho e để e làm thủ tục bán cho người khác......”

Ông T trả lời: “a rất thiện trí mua”

Bút lục 23: Thứ 6, Ngày 23 tháng 12: Ông Việt nhắn: “Thống nhất T2 ngày 26/12 a sang PQ để ae làm công chứng ủy quyền a nhá a xắp xếp đúng hẹn cho e”

Thứ 2, Ngày 26 tháng 12: Ông T nhắn: “Sáng mai a qua, nuế kịp thì làm buổi sáng e nhé".

Bút lục 21: Thứ 5, 5 tháng 1: Ông T nhắn: “ E oi xin lỗi e bữa roi mua xe của e a gặp nhiều chuyện quá, tuần sau a gui lại roi a chịu lỗ nhé”

từ bữa giờ anh mất khá nhiều tiền vì cái xe này...”.

Ông V nhắn: “E gửi đơn trình báo lên cơ quan c a r cần trao đổi j a gọi điện lại cho e"

Đơn tố cáo ông V chụp gửi cho ông T có nội dung(Bút lục 20):

“Vào ngày 08/12/2022 vợ chồng tôi có bán chiếc xe ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 cho anh Ngô Văn T, sinh năm 1973, CCCD số [...],số điện thoại 0949.882.xxx, với số tiền 470.000.000đ, anh T trả trước 70.000.000đ, số tiền còn lại anh T hẹn 01 tuần là xong thủ tục thanh toán tiền cho ngân hàng lấy giấy đăng kí xe...”

Ông T nhắn: “E còn ở pq ko 26 a cho người đem xe qua roi a chịu lỗ”

Ông V nhắn: “Vẫn ở PQ a”

Bút lục 18: Ông Việt nhắn: “A đang cố tình lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của vk e đúng ko"

Ông T nhắn: “thứ sáu a chuyen e 300tr roi e rut đăng ký ra a gửi nốt nhé. Còn a chịu tiền lời từ khi a nhận xe”

Ông V nhắn: “e cho a lần nay nữa làm việc đúng hnay t2 6/2/2023 đúng t6 ngày 10/2/2023 a chuyển tiền cho e và hoàn tất thủ tục còn lại.

Ông T nhắn: “Oki”

Bút lục 17: th6, 10 th2: Ông Việt nhắn: “Nếu như từ giờ đến tối a ko chuyển tiền cho e e sẽ ủy quyền hoàn toàn cho bên luật sư họ làm việc với a vì a lừa e quá nhiều lần r”.

Như vậy qua thu thập các chứng cứ thuê bao di động, trao đổi tin nhắn giữa các bên, giấy ủy quyền ngày 27/12/2022 lập giữa ông T với vợ chồng ông V, bà P được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Kiên Giang và đơn tố cáo ông V gửi cho ông T có nội dung như trên thì ông T đọc tin nhắn, thừa nhận và không phản đối gì. Như vậy, vào ngày 08/12/2022 giữa vợ chồng ông Đinh Văn V, bà Nguyễn Thị Thu P và ông Ngô Văn T, có giao dịch mua bán xe đối chiếc xe ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884, với số tiền 470.000.000đồng, ông T đã trả trước 70.000.000đồng cho vợ chồng ông V và vợ chồng ông V đã giao xe cho ông T nhận quản lý, sử dụng từ đó đến nay.

Tuy nhiên, theo quy định của Điều 119 của Bộ luật Dân sự hình thức giao dịch dân sự; khoản 2 Điều 11 Thông tư 24/2023/TT-BCA ngày 01/7/2023 của Bộ C2 quy định về quy trình cấp, thu hồi, đăng ký biển số xe cơ giới.

Điều 11: Giấy tờ của xe:

2. Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, gồm một trong các giấy tờ sau đây:

b)

Văn bản về việc bán, tặng cho, thừa kế xe của cá nhân phải có xác nhận công chứng hoặc chứng thực.

Như vậy các bên không tuân thủ quy định của pháp luật về mặt hình thức và nội dung tại thời điểm mua bán xe đang thế chấp tại ngân hàng nên hợp đồng mua bán xe giữa các bên bị vô hiệu theo Điều 123 và Điều 129 của Bộ luật Dân sự.

Về lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu: Đây là lỗi của cả hai bên trong quá trình giao kết hợp đồng.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Giao dịch Dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi chấm dứt, quyền nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập, các bên giao trả cho nhau những gì đã nhận.

Về nghĩa vụ của bên bán xe: Vợ chồng ông V đã nhận của ông T số tiền mua bán xe là 70.000.000đồng nên có trách nhiệm trả lại cho ông T.

Về nghĩa vụ của bên mua xe: Ông T đã nhận xe ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 quản lý, sử dụng từ năm 2022 đến nay nên cần buộc ông T trả lại chiếc xe trên cho vợ chồng ông V. Tuy nhiên, đây là tài sản có niên hạn sử dụng, ông T đã nhận xe quản lý, khai thác sử dụng công dụng chiếc xe trên nên cần tính khấu hao chiếc xe trên.

Tại Biên bản làm việc, về việc xác định giá trị còn lại của xe ôtô con trên tại Chi Cục Thuế thành phố B cung cấp như sau: Bảng giá quy định xe ô tô con trị giá xe mới: 589.000.000đồng; Giá trị còn lại của xe: 294.500.000đ (còn 50%). Như vậy các bên khi mua bán xác định giá 470.000.000đồng, hiện nay giá còn lại 294.500.000đồng, khấu hao xe với số tiền 175.500.000đồng.

Như vậy số tiền ông T phải trả lại cho vợ chồng ông V là 175.500.000đồng – 70.000.000đồng (vợ chồng ông V nhận của ông T) = 105.500.000đồng.

Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P. Tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán xe ngày 08/12/2022 giữa vợ chồng ông V và ông T đối với ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

  1. Về án phí và lệ phí: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 169; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 119, 123, 129, 131 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 11 Thông tư 24/2023/TT-BCA ngày 01/7/2023 của Bộ C2 quy định về quy trình cấp, thu hồi, đăng ký biển số xe cơ giới; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

  1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị Thu P.

Tuyên bố hợp đồng mua bán xe ngày 08/12/2022 giữa ông Đinh Văn V, bà Nguyễn Thị Thu P và ông Ngô Văn T đối với ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 được Phòng C1 công an tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 035776 ngày 22/12/2020 đứng tên ông Đinh Văn V là vô hiệu.

Buộc ông Ngô Văn T phải trả cho vợ chồng ông Đinh Văn V, bà Nguyễn Thị Thu P 01 ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 được Phòng C1 công an tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 035776 ngày 22/12/2020 đứng tên ông Đinh Văn V và số tiền 105.500.000đồng (Một trăm linh năm triệu, năm trăm ngàn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 BLDS năm 2015.

  1. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Văn T phải chịu 5.275.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Đinh Văn V, bà Nguyễn Thị Thu P số tiền 10.127.123 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, do Trần Hải A đã nộp theo biên lai thu số 0002665 ngày 01/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk.
  2. Về lệ phí thông báo nhắn tin: Ông Ngô Văn T phải chịu 2.425.000đồng; Trả lại ông Đinh Văn V, bà Nguyễn Thị Thu P số tiền 2.425.000đồng tạm ứng đã nộp tại Đ khu vực T và B sau khi thu được từ ông Ngô Văn T.
  3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Đắk lắk
  • -VKSND tỉnh;
  • -VKSND Tp. BMT;
  • -THADS Tp. BMT;
  • -Đương sự;
  • -Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/DS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 81/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Văn Việt và bà Nguyễn Thị Thu Phượng. Tuyên bố hợp đồng mua bán xe ngày 08/12/2022 giữa ông Đinh Văn Việt, bà Nguyễn Thị Thu Phượng và ông Ngô Văn Tỉnh đối với ô tô con, hiệu SUZUKI, biển số: 18A-224.84, số máy: K15BT1205158, số khung: C228LJ908884 được Phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 035776 ngày 22/12/2020 đứng tên ông Đinh Văn Việt là vô hiệu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger