Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 81/2024/HSST

Ngày 09 tháng 8 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và bà Phan Thị Nhung.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hương là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Nhà văn hóa tổ 1, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST - HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lý Văn Đ, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2001; sinh trú quán: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lý Văn S (đã chết) và bà Trương Thị H (đã chết); vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

  • + Ngày 27 tháng 11 năm 2018, Lý Văn Đ tự nguyện đi cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 thành phố Hà Nội. Đến ngày 27/5/2019 thì về địa phương sinh sống.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2020/HSST ngày 28/7/2020, Lý Văn Đ bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/3/2024, Lý Văn Đ đi lang thang tại khu vực đường Trần Hưng Đạo, phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì gặp người bạn nghiện tự giới thiệu tên là Tùng, Đ không rõ lý lịch, nhân thân cụ thể của người tên Tùng ở trên. Tại đây, Tùng đưa cho Đ 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ bên trong chứa ma túy đá, loại Methamphetamine, để Đ sử dụng. Sau khi được Tùng cho ma túy, Đ cầm ma tuý tại lòng bàn tay trái rồi một mình đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Đ đi đến đoạn đường Trần Hưng Đạo thuộc khu vực tổ 2, phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên thì bị tổ công tác của Công an phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật gồm có: Thu tại lòng bàn tay trái của Lý Văn Đ 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ bên trong chứa các chất tinh thể dạng đá màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 và thu giữ mẫu nước tiểu của Lý Văn Đ đựng trong 01 chai nhựa có nắp đậy kín được niêm phong theo đúng quy định.

Tại Kết luận giám định số: 905/KLGĐ - KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,0335 gam (Một phảy không ba ba gam không kể bao bì) là loại Methamphetamine”

Tại bản kết luận giám định số: 947/KLGĐ KTHS ngày 06/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu của Lý Văn Đ gửi đến giám định”.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như các nội dung đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 69/CT - VKSPY ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lý Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các vật chứng đã thu giữ được.

Từ đó có đủ cở sở để xác định, bị cáo Lý Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố của mình đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Văn Đ từ 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

2

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề xuất quan điểm về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án và án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lý Văn Đ không có ý kiến gì tham gia tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không có kiến nghị hay khắc phục gì.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lý Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố mà không có lời tự bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các vật chứng đã thu được và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/3/2024, tại khu vực tổ 2, phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên. Tổ công tác của Công an phường Hùng Vương kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lý Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 1,0335 gam loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Với hành vi trên của Lý Văn Đ đã có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định:

“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c, Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

3

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, gây nên sự đau khổ bất hạnh cho nhiều gia đình; ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Tội phạm về ma tuý là nguy cơ dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản...ngoài ra nó còn là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến căn bệnh thế kỷ: HIV - AIDS.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Mặc dù, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo là đối tượng bị nghiện ma túy từ năm 2017 đến nay vẫn chưa từ bỏ được nên cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh mới có tác dụng dăn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị Toà án xét xử về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người tốt.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đ khai nhận. Do bản thân bị nghiện ma tuý nên khi được Tùng đưa cho ma túy thì cầm để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Đối với người đàn ông tên Tùng, Đ khai, Tùng là người đưa cho Đ ma tuý để sử dụng. Do Đ không biết nhân thân, lai lịch của người tên Tùng ở trên nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ thì xử lý sau.

[3]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Do bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” ký hiệu A1 = 0,8623 gam là mẫu vật được Cơ quan giám định hoàn trả lại sau khi đã giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và 0,0ml mẫu cùng toàn bộ bao gói, được niêm phong kín không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do vậy, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng, bản thân bị cáo là đối tượng bị nghiện ma túy nhiều năm, không có nghề nghiệp, kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt

4

tiền đối với bị cáo.

[5]. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Bị cáo Lý Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên./.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lý Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Lý Văn Đ 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị báo bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói niêm phong ký hiệu “MẪU TRẢ” A1 = 0,8623g (Không phảy, tám sáu hai ba gam) do Cơ quan giám định hoàn trả là vật Nhà nước cấm lưu hành và 0,0ml mẫu cùng toàn bộ bao gói, được niêm phong kín không còn giá trị sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên và Công an thành phố Phúc Yên ngày 26 tháng 6 năm 2024).

Về án phí: Bị cáo Lý Văn Đ phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND thành phố Phúc Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA thành phố Phúc Yên;
  • - Cơ quan THA. HS thành phố Phúc Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Phúc Yên;
  • - UBND xã nơi bị cáo đang cư trú;
  • - Lưu HS vụ án; bộ phận theo dõi THA.HS; VT; bị cáo.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Hạnh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HSST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 81/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lý Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lý Văn Đ 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị báo bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger