Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập -Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08 - 8 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Tăng Văn Thành.

Ông Trần Huy Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 172/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lê Tú A; Sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Trịnh Tấn P; Sinh năm: 1989. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 5 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Tú A trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lê Tú A và ông Trịnh Tấn P tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 143, ngày 28/12/2020. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng bất đồng ý kiến và thường xuyên cãi vã nhau. Bà Tú A và ông P đã sống ly thân từ tháng 9/2021 cho đến nay. Nay bà Tú A xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Trịnh Tấn P không còn, nên bà Tú A yêu cầu ly hôn với ông Trịnh Tấn P; Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Lê Tú A và ông Trịnh Tấn P có 01 người con chung tên là Lê Kim C, sinh ngày 26/8/2021. Hiện nay, cháu C đang sống chung với bà Tú A. Bà Lê Tú A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Kim C, sinh ngày 26/8/2021 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà Tú A và ông Trịnh Tấn P không có tài sản chung và không có nợ chung, nên bà Tú A không có yêu cầu gì.

* Bị đơn là ông Trịnh Tấn P đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông Trịnh Tấn P không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Trịnh Tấn P.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Lê Kim C, sinh ngày 26/8/2021 cho bà Tú A nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Trịnh Tấn P là bị đơn trong vụ án, ông Trịnh Tấn P đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Trịnh Tấn P.

Đối với nguyên đơn bà Lê Tú A đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Tú A.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lê Tú A và ông Trịnh Tấn P là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng ông bà không tìm giải pháp bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 5 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Tú A yêu cầu được ly hôn với ông Trịnh Tấn P là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Tú A. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Lê Tú A được ly hôn với ông Trịnh Tấn P.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Lê Tú A và ông Trịnh Tấn P có 01 người con chung tên là Lê Kim C, sinh ngày 26/8/2021. Hiện nay, cháu C đang sống chung với bà Tú A. Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 5 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Lê Tú A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Kim C, sinh ngày 26/8/2021 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông Trịnh Tấn P phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với bị đơn là ông Trịnh Tấn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về nội dung yêu cầu của bà Tú A, nhưng ông Trịnh Tấn P không có văn bản trả lời về nội dung yêu cầu của bà Tú A. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi bà Tú A và ông P sống ly thân cho đến nay thì cháu C sống chung với bà Tú A. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lê Kim C, sinh ngày 26/8/2021 cho bà Tú A nuôi dưỡng đến khi thành niên, do bà Tú A không yêu cầu ông Trịnh Tấn P phải cấp dưỡng nuôi con, nên ông Trịnh Tấn P không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông Trịnh Tấn P, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Tú A không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Tú A phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông Trịnh Tấn P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tú A.

  1. Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Tú A được ly hôn với ông Trịnh Tấn P.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Kim C, sinh ngày 26/8/2021 cho bà Tú A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu C thành niên. Ông Trịnh Tấn P không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông Trịnh Tấn P, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Tú A không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Tú A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà Tú A được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004213 ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Tú A đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Trịnh Tấn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Tú A và ông Trịnh Tấn P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Mỹ Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Lê Tú A yêu cầu ly hôn với ông Trịnh Tấn Ph
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger