TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Bản án số: 81/2025/DS-ST
Ngày: 07/02/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hoàng Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngọc Lước.
- Ông Đỗ Xuân Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 927/2024/TLST-DS ngày 02/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 447/2024/QĐXXST-DS ngày 16/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/QĐST-DS ngày 07/01/2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-DS ngày 07/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Trần Thứ L, sinh năm 1995.
- Ông Nguyễn Khánh D.
Địa chỉ: Tầng A, B Q, Phường C, G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 15900/2024/UNC(UQ-VPB) ngày 22/05/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V)
- Bị đơn: Ông Lê Thuần K, sinh năm 1986.
Địa chỉ: số G T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và quá trình giải quyết vụ án ông Trần Thứ L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 12/10/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Lê Thuần K có ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử với nội dung như sau: Số tiền vay: 210.000.000 đồng; Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống; Lãi suất 42%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Thuần K đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký, các khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 04/3/2023.
Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc ông Lê Thuần K phải trả ngay một lần, toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo hợp đồng nêu trên cho Ngân hàng tính đến ngày 07/02/2025 tổng cộng là 456.063.168 đồng. Trong đó, nợ gốc là 202.623.601 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.527.379 đồng và nợ lãi quá hạn là 246.912.187 đồng do vi phạm Hợp đồng nêu trên.
- Ngoài ra ông Lê Thuần K còn phải tiếp tục chịu lãi phạt, chậm trả theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 08/02/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
- Yêu cầu ông Lê Thuần K phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
Ông Lê Thuần K là bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án tổng đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Thuần K trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu (gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn) là 456.063.168 đồng, trong đó: Nợ gốc là 202.623.601 đồng, N lãi trong hạn là 6.527.379 đồng và nợ lãi quá hạn là 246.912.187 đồng; Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ ký ngày 12/10/2022. Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, T phồ Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp đồng cấp tín dụng của nguyên đơn với khách hàng cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 4 Điều 8 Bản các điều khoản và điều kiện chung của Ngân hàng đính kèm với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 12/10/2022 quy định: “Các tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Văn kiện tín dụng, Điều kiện Giao Dịch Chung này sẽ được các bên bàn bạc xử lý trên tinh thần hợp tác, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được hoặc không muốn thỏa thuận với nhau, một trong các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật. Các bên thống nhất rằng: Địa chỉ của các bên như nêu tại Văn kiện tín dụng là địa chỉ được sử dụng để Tòa án xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Trường hợp KH thay đổi địa chỉ mà không thông báo cho NH bằng văn bản, thì được hiểu là KH có tính giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ và NH có quyền yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung. KH chấp nhận việc Tòa án xét xử vắng mặt KH, kể cả trường hợp không lấy được lời khai của KH; NH có toàn quyền lựa chọn và yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở chính của Ngân hàng TMCP V là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, kể cả khi không tìm kiếm được địa chỉ của KH vì bất cứ lý do gì”.
Tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ thể hiện bị đơn có địa chỉ thường trú là 1 V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo phúc đáp của Công an Phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung ông Lê Thuần K, sinh năm 1986 có đăng ký thường trú tại 1 V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương. Hiện bản nhà chuyển đi đến 7 T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến nay.
Theo phúc đáp của Công an P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung ông Lê Thuần K, sinh năm 1986 có đăng ký tạm trú tại 7 T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 28/4/2023 nhưng đã chuyển đi nơi khác từ tháng 10/2023, hiện không còn cư trú tại 7 T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, không có thông tin mới
Xét, bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại quận P nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.3] Thời hiệu khởi kiện:
Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện. Căn cứ vào khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử không giải quyết về thời hiệu khởi kiện.
[1.4] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Ngày 03 tháng 01 năm 2025, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Thứ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn là ông Lê Thuần K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[1.5] Việc thu thập chứng cứ:
Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn, nhưng bị đơn vẫn không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án.
Xét thấy, bị đơn là ông Lê Thuần K đã được Tòa án triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tống đạt các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, tiến hành thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
[2] Nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc.
Căn cứ vào ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 12/10/2022 được lập và có chữ ký giữa nguyên đơn và bị đơn đủ cơ sở để xác định Ngân hàng cho ông K vay với số tiền vay được duyệt là: 210.000.000 đồng, Ngày giải ngân: 25/10/2022; Lãi suất áp dụng (%/năm): 42,00; Kỳ hạn (tháng): 36; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Đối chiếu bản sao kê do Ngân hàng cung cấp và lời trình bày của đại diện nguyên đơn cho thấy, từ ngày nhận nợ đến nay ông K chỉ thanh toán một phần và không tiếp tục thanh toán khoản nợ còn lại.
Xét, nội dung Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 12/10/2022 phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực pháp luật. Bị đơn vi phạm các quy định trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ; Bản các điều khoản và điều kiện chung của Ngân hàng. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán nợ gốc là 202.623.601 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi theo lãi suất thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử của Ngân hàng:
[2.2.1] Căn cứ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 12/10/2022 quy định lãi suất khoản vay là 42%/năm được tính trên dư nợ giảm dần được ký giữa Ngân hàng và ông K, việc tính lãi của nguyên đơn phù hợp với quy định khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu tiền lãi trong hạn của nguyên đơn.
[2.2.2] Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và tiến hành thu hồi nợ vay là đúng theo thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử của Ngân hàng.
Xét, khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy đến kỳ hạn trả nợ phía bị đơn không trả được nợ nên nguyên đơn yêu cầu chuyển toàn bộ dư nợ hiện có của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn là phù hợp với quy định về chuyển nợ quá hạn.
Theo quy định tại khoản 14 Điều 4 và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật. Mức lãi suất của nguyên đơn thỏa thuận với bị đơn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ còn thiếu là 456.063.168 đồng, trong đó: Nợ gốc là 202.623.601 đồng, N lãi trong hạn là 6.527.379 đồng, N lãi quá hạn là 246.912.187 đồng.
[2.2.2] Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về tiền lãi phát sinh từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.
[2.3] Xét, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết nội dung vụ án nêu trên phù hợp với những đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử.
[3] Án phí:
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 22.242.527 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 14 Điều 4, khoản 2 Điều 91, khoản 1 và 2 Điều 95 và khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Buộc ông Lê Thuần K có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền là 456.063.168 đồng (Bốn trăm năm mươi sáu triệu sáu mươi ba nghìn một trăm sáu mươi tám đồng). Trong đó nợ gốc là 202.623.601 đồng (Hai trăm lẻ hai triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm lẻ một đồng), nợ lãi trong hạn là 6.527.379 đồng (Sáu triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi chín đồng), nợ lãi quá hạn là 246.912.187 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm mười hai nghìn một trăm tám mươi bảy đồng) theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 12/10/2022 và Bản các điều khoản và điều kiện chung của Ngân hàng.
Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 12/10/2022 và Bản các điều khoản và điều kiện chung của Ngân hàng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Thuần K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 22.242.527 đồng (Hai mươi hai triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm hai mươi bảy đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 7.262.270 đồng (Bảy triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004463 ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Lê Hoàng Yến |
Bản án số 81/2025/DS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 81/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
