|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 81/2024/HSST Ngày 06- 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Duy Tính
- Ông Nguyễn Trọng Hà
Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Nguyễn Trọng T (tên gọi khác: không), sinh năm 1962 tại tỉnh Phú Thọ; Đăng ký HKTT: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn S (Đã chết) và bà Dương Thị B (Đã chết); có vợ: Nguyễn Thị Phú V; con: không; tiền án: 01 (Bản án số 23/2018/HSST ngày 07/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/4/2022; tiền sự: 01 (Ngày 23/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng tại cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ cơ sở 2 tại khu C, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Ngày 14/9/2023 Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính này; nhân thân: 04 (Ngày 30/5/1984 Toà án nhân dân huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú (nay là huyện T, tỉnh Phú Thọ) xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Đã chấp hành xong bản án; Bản án số 02 ngày 30/01/1986 Toà án nhân dân huyện Tam Thanh, tĩnh V (nay là huyện T, tỉnh Phú Thọ) xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Đã chấp hành xong bản án; Bản án số 19 ngày 24/12/1987 Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú (nay là huyện T, tỉnh Phú Thọ) xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Đã chấp hành xong bản án; Bản án số 84 ngày 26/8/1991 Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) xử phạt 04 năm tù về tội trốn khỏi nơi giam và 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Tổng hợp hình phạt là 7 năm tù. Tổng hợp hình phạt còn lại của bản án số 19 ngày 24/12/1987 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn (còn phải thi hành là 02 năm 4 tháng 26 ngày), T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 09 năm 4 tháng 26 ngày tính từ ngày 02/8/1990; Bản án số 104 ngày 30/6/1993 Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm tù về tội trốn khỏi nơi giam và 08 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Tổng hợp hình phạt là 14 năm tù. Tổng hợp với hình phạt còn lại của bản án số 84 ngày 26/8/1991 của. Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú (còn phải thi hành là 08 năm 3 tháng 26 ngày), T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 20 năm tù ngày tính từ ngày 01/8/1992. Thế chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/8/2012; Bản án số 18/2015/HSST ngày 08/6/2015 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Đánh bạc, số tiền đánh bạc là 4.220.000đ. Ngày 07/11/2016 Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ ra quyết định miễn chấp hành hình phạt tù 02 năm 06 tháng tù về tội đánh bạc đối với Nguyễn Trọng T. Do chuyển biến tình hình và nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, nên T được miễn chấp hành hình phạt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1965; Trú tại: Tổ A, phố A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, tại khu vực thuộc đội H, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an thành phố V phát hiện bị cáo có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, bị cáo tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có 05 gói nilon màu trắng, bên trong cả 05 gói nilon đều là gói giấy mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng, giao nộp cho tổ công tác. Bị cáo khai đây là ma tuý Heroin của bị cáo với mục đích để có ai hỏi mua bị cáo sẽ bán với giá 500.000 đồng một gói. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, thu giữ và niêm phong 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có 05 gói nilon màu trắng như đã nêu trên; Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ, số IMEI: 353931046088380 kèm sim trong máy số 0837121062 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh trắng đã cũ, số IMEI: 861428059629379 kèm sim trong máy số 0353591346; tiền Việt Nam 1.200.000 đồng.
Cùng ngày, Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với bị cáo. Kết quả kiểm tra của bị cáo là dương tính với chất ma tuý
Cùng ngày 28/3/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố V tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo tại đội H, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ tại giường ngủ của bị cáo 01 mảnh nilon màu trắng kích thước 31cmx8cm; 04 mảnh giấy đều một mặt màu trắng một mặt màu trắng bạc kích thước 13x8cm.
Tại bản kết luận giám định số 408/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 05 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý, có tổng khối lượng là: 0,603gam; loại heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại bộ luật hình sự 2015. (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định danh mục chất ma tuý và tiền chất”
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã tự khai ra 01 lần bán ma túy cho Lê Hồng T1, SN: 1965, HKTT: phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, cụ thể: Khoảng 12h cùng ngày 28/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T1 đi lên khu vực xã T, T, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma tuý. Tại đây, T1 gặp bị cáo đang thuê trọ gần đó. T1 hỏi mua của bị cáo 500.000 đồng ma tuý. Bị cáo đồng ý, cầm 500.000đ của T1 và đưa lại cho T1 01 gói ma tuý có đặc điểm là gói nilon màu trắng bên trong có gói giấy mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma túy Heroin. Tại bản tự khai của T1; biên bản đối chất ngày 28/3/2024 giữa bị cáo và T1: T1 thừa nhận việc mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng của bị cáo. Gói ma túy này T1 đã sử dụng hết cho bản thân.
Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ và nguồn gốc số ma túy bị cáo bán cho Lê Hồng T1, bị cáo khai nhận như sau: Khoảng 7h ngày 27/3/2024 bị cáo một mình đi sang khu vực huyện B, thành phố Hà Nội thì gặp một người đàn ông khoảng gần 30 tuổi không biết tên tuổi ở đâu. Bị cáo hỏi và mua được của người này 01 gói ma tuý có đặc điểm là gói giấy hai mặt màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroin với giá 2.500.000 đồng. Bị cáo cầm gói ma tuý mua được đi về phòng trọ. Khi về tới phòng trọ, bị cáo mở gói ma tuý vừa mua được ra tách lấy một phần sử dụng cho bản thân, phần còn lại bị cáo gói lại như cũ. Đến khoảng hơn 9h ngày 28/3/2024, bị cáo mở gói ma tuý tiếp tục tách lấy một phần sử dụng cho bản thân, phần ma túy còn lại bị cáo chia làm 06 phần rồi cho vào 06 gói giấy đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng bên ngoài cả 06 gói giấy đều được cuốn bằng nylon màu trắng, T để 6 gói ma tuý vào một túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ và đúc trong người. Đến khoảng 12h cùng ngày, Lê Hồng T1 đến hỏi mua ma túy, Bị cáo đã bán 01 gói ma túy cho T1 như đã nêu trên. Đến khoảng hơn 17h cùng ngày T mang túi ma túy có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có 05 gói nilon màu trắng ra đứng ở trước cửa phòng trọ với mục đích có ai hỏi mua thì bán với giá 500.000 đồng/gói. Khi đang đứng được một lúc thì bị cáo bị tổ công tác Công an thành phố V bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 78/CT-VKSVT ngày 10/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đều đồng ý với Bản kết luận giám định số 408/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh P
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo T từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS, Tịch thu sung công quỹ số tiền 700.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ, số IMEI: 353931046088380 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh trắng đã cũ, số IMEI: 861428059629379 của bị cáo.
Xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, Nguyễn Trọng T có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy cho Lê Hồng T1, sinh năm 1965; Trú tại: Tổ A, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ tại nhà trọ nơi T đang thuê ở tại khu vực xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với giá 500.000 đồng. Do số ma túy này T1 đã sử dụng hết cho bản thân nên không không xác định được khối lượng. Đến hồi 17 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, tại khu vực thuộc đội H, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói ma túy Heroine, khối lượng 0,603gam ma túy Heroine nhằm mục đích để bán với giá 500.000đồng/01 gói. Tuy nhiên, bị cáo chưa kịp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang và lập biên bản thu giữ tang vật. Do vậy, chỉ xác định bị cáo T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy có khối lượng 0,603gam ma túy loại Heroine.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe con người, sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Xem xét nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Trọng T có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 23/2018/HSST ngày 07/3/2018, bị cáo Nguyễn Trọng T bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án đã có hiệu pháp luật và bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 09/4/2022 nên bị cáo chưa được xóa án tích với bản án này. Ngoài ra, Tại bản án này xác định bị cáo có 04 nhân thân và không tiền án, tiền sự nên xác định bị cáo có 01 tiền án, đối với bản án này. Do vậy, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Khi hành vi mua bán ma túy của bị cáo chưa bị phát hiện bị cáo đã tự khai báo với cơ quan điều về hành vi này. Do vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có 02 tình giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo phạm là tội nghiêm trọng, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện. Bị cáo T nhân thân xấu, đã bị áp dụng hình phạt tù về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về ma túy .Vì vậy cần áp dụng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm rặn đe phòng ngừa chung những tệ nạn xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Tuy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản giá trị nhưng bị cáo đang bị tạm giữ số tiền 700.000 đồng là tiền bị cáo lao động mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ, số IMEI: 353931046088380 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh trắng đã cũ, số IMEI: 861428059629379 của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu toàn bộ số tiền và 02 chiếc điện thoại trên này là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 bì niêm phong số: 408/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,435 gam chất bột, cục màu trắng là ma túy loại Heroine. Đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ, số IMEI 353931046088380 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh trắng đã cũ, số IMEI 861428059629379 cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo T: Quá trình điều tra xác định đây là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng đã áp dụng hình phạt bổ sung tịch sung công quỹ nhà nước.
Đối với sim số 0353591346 và 0837121062 thu giữ của bị cáo: Đây là sim số của bị cáo. Bị cáo không sử dụng sim số này để liên lạc mua bán ma túy. Do bị cáo không đề nghị được lấy lại sim số này và sim số không có giá trị sử dụng, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 04 mảnh giấy một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng, kích thước khoảng 13x8cm và 01 mảnh nilon màu trắng, kích thước khoảng 31x9cm là của bị cáo sử dụng để gói ma túy nhưng không sử dụng hết cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo. Đây không phải vật chứng vụ án nhưng đây là dụng cụ để bị cáo sử dụng để mua bán túy nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Thế là tiền bán ma túy mà có, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo: Đây là số tiền của bị cáo lao động hợp pháp mà có nhưng đã áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với hành vi mua ma túy của T1: Do khi mua được ma túy T1 đã sử dụng hết nên cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được số ma túy này. Vì không xác được khối lượng ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với T1 là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo T ngày 27/3/024: Do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được. Vì vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét giải quyết trong cùng vụ án này là phù hợp.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp. Đối hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đúng so với hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1, 5 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 04 (bốn) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ, số IMEI 353931046088380 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh trắng đã cũ, số IMEI 861428059629379 của bị cáo Nguyễn Trọng T.
[2]. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 500.000 đồng của bị cáo T
(Số tiền 1.200.000 đồng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên lai thu tiền số 0004727 ngày 11/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì niêm phong số: 408/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,435 gam chất bột, cục màu trắng là ma túy loại Heroine; sim số 0353591346, 0837121062 và 04 mảnh giấy một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng, kích thước khoảng 13x8cm và 01 mảnh nilon màu trắng, kích thước khoảng 31x9cm của bị cáo T.
(Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V bàn giao cho cơ quan Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2024).
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 81/2024/HSST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 81/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
