Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày: 06/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Võ Thanh Nga.
  2. Bà Đinh Kim Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số lý số 59/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Võ Văn Đ, sinh ngày 23/12/1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số B đường L, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S, sinh năm 1965 (chết) và bà Phạm Thị H, sinh năm 1967 (chết); Vợ: Không; Con: Không;

Tiền án: Năm 2015, bị Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong ngày 07/11/2016. Chưa thi hành bồi thường dân sự.

Tiền sự:

  • Ngày 11/07/2017, Tòa án nhân dân Quận 4 ra quyết định số 252/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P1 18 tháng, ngày
  • 07/09/2018 về địa phương.
  • Ngày 10/12/2019, Tòa án nhân dân Quận 4 ra quyết định số 402/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P2 12 tháng, ngày 05/08/2020 về địa phương.
  • Ngày 14/01/2021, Tòa án nhân dân Quận 7 ra quyết định số 06/2021/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P2 18 tháng, ngày 29/04/2022 về địa phương.
  • Ngày 06/08/2022, Tòa án nhân dân Quận 4 ra quyết định số 89//QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P3 15 tháng, ngày 01/09/2023 về địa phương.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/01/2024. “có mặt”

2. Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 09/6/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: A44/5 B, Tổ dân phố F, Khu phố E, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá T1, sinh năm 1970, và bà Lý Thị H1, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 2003; Con: Nguyễn Tú T3, sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự:

  • Ngày 29/06/2017, Tòa án nhân dân Quận 4 ra quyết định số 239/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P1 18 tháng, ngày 29/10/2018 về địa phương.
  • Ngày 15/07/2019, Tòa án nhân dân Quận 4 ra quyết định số 212/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P 18 tháng, ngày 29/10/2020 về địa phương.
  • Ngày 14/10/2021, Tòa án nhân dân Quận 4 ra quyết định số 319/QĐ-TA đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy P 12 tháng, ngày 23/08/2022 về địa phương.
  • Ngày 11/03/2013, Ủy ban nhân dân Quận B2 ra quyết định số 1518/QĐ đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm C, ngày 25/02/2015 về địa phương.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/10/2023. “có mặt”

- Bị hại: Lê Đức H2, sinh năm 1992. “vắng mặt”

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Võ Thị Mỹ L, sinh năm 1994. “vắng mặt”

Địa chỉ: số E đường C, Phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 ngày 18/10/2023, Võ Văn Đ điều khiển xe máy hiệu Astrea, biển số 51F2-9645 chở Nguyễn Tuấn T lưu thông đường X, hướng ra đường T, Quận D, Đ phát hiện anh Lê Đức H2 điều khiển xe máy Vespa, màu đen, biển số: 59G3 – 034.49 chở anh Trần Quang T4 lưu thông phía trước, bên trong túi quần trước bên trái của anh H2 để điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím lộ ra bên ngoài, nên Đ hỏi T “giật tài sản không”, T đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe chở T chạy theo phía sau xe của H2. Khi đến trước số A T, Phường A, Quận D, Đ điều khiển xe máy áp sát từ phía sau bên trái vào xe của anh H2, T ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại của anh H2 đang để ở trong túi quần phía trước bên trái, Đ tăng ga bỏ chạy về hướng đường T. Khi Đ điều khiển xe bỏ chạy đến số D T, Phường D, Quận D, tổ tuần tra Công an Q đang tuần tra, phát hiện anh H2 và T4 truy hô, nên cùng truy đuổi Đ và T đến ngã 4 H – Đoàn Văn B, Đ và T bị ngã xe, cả 02 bỏ lại xe chạy bộ. T bỏ chạy đến trước số H H, Phường A, Quận D thì bị bắt giữ, Cơ quan Công an thu giữ được vật chứng, riêng Đ tẩu thoát về hướng cầu C. Đến ngày 26/01/2024, Cơ quan điều tra Công an Q bắt giữ Võ Văn Đ.

Tại Cơ quan điều tra Công an Q, Nguyễn Tuấn T, Võ Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 03/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận D kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, có trị giá 21.150.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý trao trả chủ sở hữu là anh Lê Đức H2.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Astrea Grand màu đen, biển xe số 51F2 – 9645, số khung ND101-80299, số máy NDE-1083182, đã qua sử dụng. Qua xác minh, xe trên thuộc chủ sở hữu anh Phạm Văn T5 (sinh năm 1949), anh T5 đã chết vào năm 2016, gia đình không biết anh T5 bán xe cho ai. Chị Võ Thị Mỹ L (sinh năm 1994, là chị ruột bị can Đ) mua xe trên tại cửa hàng xe máy A, địa chỉ số D P, Phường C, Quận H. Ngày 18/10/2023, Võ Văn Đ tự ý lấy xe trên đi phạm tội. Cơ quan điều tra hiện đã đăng báo tìm người có liên quan xe trên;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, số Serial: 358892076012457, sim số: 0335757527 (tài sản cá nhân của T); 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu nâu có chữ P (là trang phục T mặc khi phạm tội).

Cơ quan điều tra Công an Q đã nhập kho vật chứng.

Về trách nhiệm dân sự: anh Lê Đức H2 đã nhận lại tài sản, nên không yêu cầu bồi thường dân sự, không khiếu nại, thắc mắc gì.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSQ4 ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo về tội “cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bị cáo Võ Văn Đ và bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội” Cướp giật tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn Đ từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù giam và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đề nghị trả lại cho Nguyễn Tuấn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, số Serial: 358892076012457, sim số: 0335757527; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu nâu có chữ P (là trang phục T mặc khi phạm tội). Đề nghị trả lại cho Võ Thị Mỹ L 01 xe máy nhãn hiệu Astrea Grand màu đen, biển xe số 51F2 – 9645, số khung ND101-80299, số máy NDE-1083182, đã qua sử dụng.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Võ Văn Đ và Nguyễn Tuấn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn

toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, tại khu vực trước số A T, Phường A, Quận D, Võ Văn Đ điều khiển xe máy hiệu Honda Astrea, biển số: 59F2-9645 chở Nguyễn Tuấn T, áp sát xe máy Vespa, biển số: 59G3 – 034.49 do anh Lê Đức H2 điều khiển chở anh Trần Quang T4, để T dùng tay phải giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, của anh Lê Đức H2, trị giá 21.150.000 đồng, sau đó nhanh chóng tẩu thoát, nên đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây tác hại xấu đến đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • -Bị cáo Võ Văn Đ có nhân thân xấu, có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái pham, theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • -Bị cáo Nguyễn Tuấn T không có tiền án, có 04 tiền sự.
  • - Các bị cáo có học vấn thấp, không có việc làm, bị bệnh hiểm nghèo, có nhận thức kém nên dẫn đến hành vi phạm tội. Tài sản do hành vi cướp giật gây ra đã được thu hồi và hoàn trả cho bị hại.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Trả lại cho Nguyễn Tuấn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, số Serial: 358892076012457, sim số: 0335757527; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu nâu có chữ P (là trang phục T mặc khi phạm tội). Đây là tài sản cá nhân của T.
  • - Trả lại cho bà Võ Thị Mỹ L 01 (một) xe máy nhãn hiệu Astrea Grand màu đen, biển xe số 51F2 – 9645, số khung ND101-80299, số máy NDE-1083182, đã qua sử dụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 điểm d khoản 2 điều 171, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Võ Văn Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

  • - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Nguyễn Tuấn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2023.Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Trả lại cho Nguyễn Tuấn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, số Serial: 358892076012457, sim số: 0335757527; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần jean dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu nâu có chữ P (là trang phục T mặc khi phạm tội). Đây là tài sản cá nhân của T.

Trả lại cho bà Võ Thị Mỹ L 01 (một) xe máy nhãn hiệu Astrea Grand màu đen, biển xe số 51F2 – 9645, số khung ND101-80299, số máy NDE-1083182, đã qua sử dụng.

(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng số 65/2024 ngày 30/5/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).

  • - Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

2. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - CA TP.HCM; (2)
  • (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSD TP.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (2)
  • - VKSND Quận 4; (1)
  • - Công An Quận 4; (1)
  • - Trại tạm giam; (1)
  • - Chi cục THA Quận 4;
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tần Quốc Bình

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tần Quốc B1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: võ văn đông nguyễn tuấn tú
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger