TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HSPT Ngày: 03/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Minh Bắc |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Thái Hùng |
| Ông Đào Trọng Hải |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 17/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Võ Hoàng T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
- Võ Hoàng T, sinh năm 2004 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: khu phố M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Con ông Võ Hoàng M (sinh năm 1974) và bà Trần Thị Kỷ M1 (sinh năm 1979); chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 21/6/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- Trần Trung H, sinh năm 2000 tại Đồng Nai; Thường trú: tổ G, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: đầu bếp; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Con ông Trần Hưng Đ (sinh năm 1966) và bà Trần Thị Yến L (sinh năm 1976); chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt giam giữ từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023; bị bắt lại ngày 28/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- Nguyễn Hữu N, sinh năm 1999 tại Tiền Giang; Thường trú: khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn M2 (sinh năm 1975) và bà Trần Thị N1 (sinh năm 1973); chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt giam giữ từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023; bị bắt lại ngày 28/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- Huỳnh Hoàng T1, sinh năm 2001 tại Sóc Trăng; Thường trú: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Con ông Huỳnh Văn S (sinh năm 1970) và bà Mai Ngọc T2 (sinh năm 1972); chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt giam giữ từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023; bị bắt lại ngày 28/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- Trịnh Đức H1, sinh năm 2001 tại Thanh Hóa; Thường trú: tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Con ông Trịnh Đức H2 (sinh năm 1976) và bà Vũ Thị B (sinh năm 1975); chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 07/7/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo khác nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h00' ngày 20/6/2023, Võ Hoàng T cùng bạn tên T3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến quán Ố thuộc khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhậu với bạn là Nguyễn Thanh T4 và bạn của T4 gồm: Phan Trần Minh T5, Nguyễn Phong P, Nguyễn Trần Ánh K, Lương Văn T6. Ngồi kế bên bàn của T gồm có: Trần Trung H, Nguyễn Hữu N, Trịnh Đức H1 cùng Võ Trần Quốc K1 cũng đang nhậu. Do T và Đức H1 quen biết nhau, nên T cầm ly bia sang bàn Đức Hiếu mời thì xảy ra mâu thuẫn với Trung Hiếu. T bị Trung H cầm ly bia hất vào người, còn T cầm ly bia ném trúng vào phía sau gáy T, rồi cả hai lao vào đánh nhau bằng chân tay và được mọi người can ngăn. Bực tức vì bị Trung H hất bia vào người nên T chỉ tay vào nhóm của Trung H nói “Tụi mày chờ tao về lấy đồ bắn chết mẹ tụi mày”, rồi T nhờ T3 chở về nhà tại khu phố M, phường M, thị xã P. T nói T3 về, còn mình vào nhà lấy 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen hiệu ZORAKI M906-TD, trong hộp tiếp đạn của súng có 02 viên đạn vỏ màu vàng đồng, để trong tủ quần áo và lấy 01 con dao tự chế bằng kim loại dựng bên hông nhà. T giấu súng và dao vào người rồi điện thoại cho bạn tên H3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ chở đến quán Ố, và H3 đồng ý.
Nhóm của Trung H đã chuẩn bị hung khí gồm: N gọi điện nhờ Huỳnh Hoàng T1 vào giường ngủ của N ở nhà tại khu phố B, phường M, thị xã P lấy giúp N 01 khẩu súng bắn pháo màu đen, bên trong ổ quay gắn sẵn 01 vòng đạn pháo màu đỏ có 08 hạt nổ mang đến quán Ốc 90 cho N để đánh nhau, và T1 đồng ý; Đức H1 về nhà lấy 01 dao rựa dài khoảng 60cm, cán gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng sắt màu đen và 01 dao chặt thịt dài khoảng 40cm, cán và lưỡi dao bằng kim loại màu đen, giữ 01 dao để sử dụng, và đưa dao còn lại cho Trung H sử dụng.
Khoảng 22h30' cùng ngày, H3 điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở T đến trước quán Ố, thì T nói H3 dừng xe và bảo H3 về. T lấy dao tự chế giấu trong người ra. T4 ở trong quán thấy T cầm dao đi đến thì chạy ra can ngăn, nói T về nhưng T không đồng ý. Cùng lúc, Trung H cầm dao tự chế, T1 cầm 02 (hai) vỏ chai bia bằng thủy tinh, N cầm súng cùng đi ra trước quán Ố đường N nói chuyện với T. Đức H1 cầm dao tự chế cùng khoảng 03 người khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cũng đi ra gần chỗ T và Trung Hiếu nói chuyện. Trung Hiếu và T nói chuyện khoảng 03 phút thì tiếp tục cãi và thách thức nhau. Lúc này, T1 cầm 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh ném T nhưng không trúng, làm văng nhiều mảnh vỏ chai ra đường. T liền ném dao xuống đường, rút súng trong người ra, chĩa về phía nhóm Trung H bắn một phát, nhưng không trúng ai. Thấy vậy, Trung H, Đức H1 ném dao xuống đường cùng cả nhóm chạy vào trong quán Ố lấy vỏ chai bia ra đường N đuổi ném T nhưng không trúng, trong đó: Đức Hiếu ném 06 lần, Trung Hiếu ném 04 lần. N rút súng pháo đuổi theo bắn T 01 phát nhưng không trúng. T quay lại dùng súng bắn N 01 cái thì đạn bị kẹt không bắn được. N tiếp tục dùng súng pháo bắn thêm 03-04 phát nhưng không trúng T. Riêng T5 không mâu thuẫn với T, nhưng trong lúc căn ngăn T và Đức H1 đánh nhau, bị T chỉ tay vào mặt thách thức nên T5 bực tức nhặt 01 vỏ chai bia trong quán cùng nhóm Đức H1 ném T nhưng không trúng. Hai bên sử dụng vỏ chai bia bằng thủy tinh và súng rượt đuổi đánh nhau trên đường N, trước quán Ố khoảng 05 phút thì giải tán.
Tại cơ quan điều tra, Võ Hoàng T, Nguyễn Hữu N, Phan Trần Minh T5, Trần Trung H, Huỳnh Hoàng T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Ngày 07/7/2023, Trịnh Đức H1 đến Công an thị xã P đầu thú, thừa nhận hành vi cùng nhóm Trần Trung H dùng vỏ chai bia bằng thủy tinh ném Võ Hoàng T.
Ngày 21/6/2023, đại diện dân cư khu phố T, phường P, thị xã P có đơn đề nghị xử lý các đối tượng gây rối trước quán Ốc 90 đêm 21/6/2023.
Cơ quan điều tra thu giữ được tại hiện trường: 01 vỏ đạn đã qua sử dụng, 01 viên đạn chưa qua sử dụng màu vàng đồng dài 2,1cm, rộng 0,9cm và nhiều mảnh thủy tinh bị vỡ; thu giữ của N 01 khẩu súng bắn pháo màu đen kiểu ổ quay, trong ổ quay gắn sẵn 01 vòng đạn pháo màu đỏ có 08 hạt nổ, của T 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen hiệu ZORAKI M906-TD, trong hộp tiếp đạn có 04 viên đạn vỏ màu vàng đồng dài 2,1cm, rộng 0,9cm. Đối với 03 con dao Trọng, Đ, T sử dụng, các bị cáo đã vứt bỏ trong lúc đánh nhau nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Kết luận giám định số 4750/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ C kết luận:
- 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, gửi giám định là súng ngắn bán tự động hiệu ZORAKI M906-TD, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ không phải vũ khí quân dụng hoặc có tính năng tương tự vũ khí quân dụng.
- 01 (một) khẩu súng ngắn dạng ổ quay gửi giám định là đồ chơi nguy hiểm dạng súng pháo, không phải vũ khí quân dụng hoặc có tính năng tương tự vũ khí quân dụng. Sử dụng súng trên bắn ở tầm kề có thể gây thương tích.
- 05 (năm) viên đạn gửi giám định là đạn cao su cỡ (9x22)mm. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng công cụ hỗ trợ cỡ 9mm và khẩu súng ngắn hiệu ZORAKI M906-TD, số hiệu 000335.
- Sử dụng khẩu súng hiệu ZORAKI M906-TD gửi giám định bắn với đạn cao su cỡ (9x22)mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích.
- * Về vật chứng: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong bằng dấu tròn đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ C có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Phương N2, Vũ Viết H4 chứa: 01 (một) khẩu súng ngắn công cụ hỗ trợ hiệu ZORAKI M906-TD số hiệu 000335, 01 (một) khẩu súng ngắn dạng ổ quay đồ chơi nguy hiểm bằng kim loại màu đen bên trong ổ quay gắn 01 (một) vòng đạn pháo màu đỏ loại có 08 hạt nổ, 03 (ba) viên đạn cao su cỡ (9x22) mm, đít đạn cùng ký hiệu 9mm PAK YAS GLD gửi trả sau giám định, 01 (một) vỏ đạn rỗng ruột màu vàng đồng dài 2,1 cm, rộng 0,9cm đang bảo quản tại kho vật chứng Công an thị xã P.
- * Về trách nhiệm dân sự: Võ Hoàng T cầm ly bằng thủy tinh ném trượt qua gáy của Trần Trung H gây thương tích nhẹ. Trần Trung H từ chối giám định thương tích và không yêu cầu T bồi thường gì thêm.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố Võ Hoàng T, Trần Trung H, Huỳnh Hoàng T1, Nguyễn Hữu N, Phan Trần Minh T5, Trịnh Đức H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
- + Võ Hoàng T 05 (Năm) năm tù, tính từ ngày 21/6/2023.
- + Trịnh Đức H1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, tính từ ngày 07/7/2023.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- + Trần Trung H 05 (Năm) năm tù, tính từ ngày 28/11/2023 được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023.
- + Nguyễn Hữu N 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, tính từ ngày 28/11/2023 được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023.
- + Huỳnh Hoàng T1 04 (Bốn) năm tù, tính từ ngày 28/11/2023 được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phạt bị cáo Phan Trần Minh T5, quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
- Bị cáo Võ Hoàng T kháng cáo ngày 26/12/2023, các bị cáo Trần Trung H, Nguyễn Hữu N kháng cáo ngày 02/01/2024, bị cáo Trịnh Đức H1 kháng cáo ngày 03/01/2024, bị cáo Huỳnh Hoàng T1 kháng cáo ngày 08/01/2024, xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo; khai nhận hành vi phạm tội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Các bị cáo làm và gửi đơn kháng cáo trong thời hạn quy định nên kháng cáo hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng T, Trần Trung H, Huỳnh Hoàng T1, Nguyễn Hữu N, Trịnh Đức H1 phạm tội Gây rối trật tự công cộng, xử phạt Võ Hoàng T, Trần Trung H mỗi bị cáo 05 (Năm) năm tù, Nguyễn Hữu N 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, Huỳnh Hoàng T1 04 (B1) năm tù, Trịnh Đức H1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Hữu N kháng cáo và bổ sung tình tiết mới là gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ già yếu được Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú xác nhận; các bị cáo khác không cung cấp thêm tình tiết, chứng cứ gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm án cho bị cáo Nguyễn Hữu N; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo còn lại.
6. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng:
- [2]. Về tội danh và Điều luật áp dụng:
- [3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:
- [4]. Về án phí:
- [5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 22h35' ngày 21/6/2023 tại khu vực đường N trước quán Ố thuộc khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bị cáo Võ Hoàng T và nhóm của bị cáo Trần Trung H gồm Trần Trung H, Nguyễn Hữu N, Huỳnh Hoàng T1, Trịnh Đức H1, Phan Trần Minh T5 xảy ra mâu thuẫn, đã sử dụng súng, dao tự chế, vỏ chai bia bằng thủy tinh rượt đuổi, đánh nhau gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn khu phố T, ảnh hưởng đến an toàn giao thông và hoạt động buôn bán của quán Ố.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Võ Hoàng T, Trần Trung H, Huỳnh Hoàng T1, Nguyễn Hữu N, Trịnh Đức H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn xã hội, an ninh trật tự tại địa phương. Là những công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, các bị cáo biết rõ việc pháp luật Hình sự bảo vệ trật tự an toàn xã hội, nhưng chỉ vì các mâu thuẫn nhỏ trong đời sống hàng ngày, đã cố ý dùng các hung khí nguy hiểm đuổi đánh nhau, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục giáo và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ Hoàng T, Trần Trung H mỗi bị cáo 05 (Năm) năm tù, Nguyễn Hữu N 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, Huỳnh Hoàng T1 04 (B1) năm tù, Trịnh Đức H1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù là đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Trung H, Nguyễn Hữu N, Huỳnh Hoàng T1, Trịnh Đức H1 bổ sung tình tiết mới có có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú thể hiện là lao động chính trong gia đình hoàn cảnh khó khăn, làm căn cứ xem xét cho kháng cáo của các bị cáo. Xét việc các bị cáo này tham gia vụ án với tính chất nguy hiểm hạn chế, vai trò bị động hơn so với bị cáo Võ Hoàng T, xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo này, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Hoàng T.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Hoàng T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo còn lại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Trung H, Huỳnh Hoàng T1, Nguyễn Hữu N, Trịnh Đức H1 về việc xin giảm nhẹ hình phạt; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng T về việc xin giảm nhẹ hình phạt; sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về phần hình phạt như sau:
Tuyên bố: Các bị cáo Võ Hoàng T, Trần Trung H, Huỳnh Hoàng T1, Nguyễn Hữu N, Trịnh Đức H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Hoàng T 05 (Năm) năm tù, tính từ ngày 21/6/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Trung H 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, tính từ ngày 28/11/2023, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, tính từ ngày 28/11/2023, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Hoàng T1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, tính từ ngày 28/11/2023, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến ngày 02/10/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Đức H1 03 (Ba) năm tù, tính từ ngày 07/7/2023.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm:
- Bị cáo Võ Hoàng T nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Các bị cáo Trần Trung H, Huỳnh Hoàng T1, Nguyễn Hữu N, Trịnh Đức H1 không phải nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/7/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 81/2024/HSPT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 81/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Hoàng T 318
