Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN LỨC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày: 02-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Văn Tươi
  • Bà Nguyễn Thị Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Nguyễn Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

- Lê Quí T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1986, tại tỉnh Long An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số C, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L, sinh năm 1937 và bà Châu Á P, sinh năm 1947; Bản thân bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01

Tại Bản án phúc thẩm số 131/2023/HS-PT ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 02/4/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.

Nhân thân:

  • Ngày 04/7/2016 bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ra Quyết định xử phạt hành chính hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 1.500.000₫.
  • Ngày 05/7/2016 bị Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An ra Quyết định xử phạt hành chính hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 1.500.000₫.
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2016/HSST ngày 28/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/4/2017 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 09/8/2017 chấp hành xong bản án, đã xóa án tích
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2018/HSST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/9/2019 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 28/5/2019 chấp hành xong bản án, đã xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 22/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Trần Thành D (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984, tại tỉnh Long An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số C, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 1966; Bản thân bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01

Tại Bản án sơ thẩm số 163/2022/HSST ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 22/02/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.

Nhân thân:

  • Tại Quyết định số 51/2019/QĐ-TA ngày 16/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đưa Trần Thành D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, ngày 13/9/2021 chấp hành xong.
  • Ngày 18/3/2014 bị Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ra Quyết định xử phạt hành chính hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 1.500.000đồng
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2014/HSST ngày 08/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 11/7/2015 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 26/8/2022 được miễn thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm và tiền nộp ngân sách Nhà nước, đã xóa án tích;
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2016/HSST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản", đến ngày 19/01/2017 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 14/01/2022 được miễn thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm và tiền nộp ngân sách Nhà nước, đã xóa án tích.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 22/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, bị cáo Lê Quí T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias biển số 66G1 – 129.15 chở Trần Thanh D1 từ thị trấn B đi huyện Đ đi tìm tài sản của người dân sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Khi đến nhà anh Nguyễn Duy L1, địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, T và D1 thấy cửa nhà đang mở, quan sát thấy anh L1 đang ngủ trước cửa nhà, xung quanh không có ai, nên T dừng xe bên đường, D1 đứng bên ngoài cảnh giới, còn T xuống xe đi bộ vào bên trong nhà của anh L1 để tìm tài sản. Khi T đi đến chỗ anh L1 đang nằm ngủ thấy có 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Iphone 12 Promax và 01 điện thoại đi động màu đen, nhãn hiệu Vivo Y15 đang sạc pin, T lén lút tháo dây sạc, lấy 02 điện thoại cất vào túi quần bên phải rồi đi ra ngoài, lên xe điều khiển chở D1 về huyện Đ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T và D1 đem bán 02 chiếc điện thoại vừa trộm được cho một thanh niên (không rõ nhân thân) tại quán nước (không rõ địa chỉ) ở khu vực C thị trấn Đ với giá 2.000.000đ, chia nhau mỗi người 1.000.000đ tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 18/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128G, màu đen trị giá 14.000.000₫, 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Vivo Y15 màu đen trị giá 1.500.000đ. Tổng giá trị tài sản: 15.500.000₫.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tạm giữ:

  • Tiền Việt Nam 500.000đồng (Lê Quí T và Trần Thành D nộp bồi thường mỗi người 250.000đ), đã nộp vào tài khoản Công an huyện B tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias màu đỏ đen, biển số 66G1-129.15, số khung: 10DY078132, số máy: 44S1078140; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 66G1- 129.15 tên chủ xe Lê Hữu H. Qua điều tra xác định xe 66G1-129.15, anh H đã bán cho người không rõ nhân thân vào năm 2007, không xác định chuyển nhượng bao nhiêu chủ sở hữu, Lê Quí T khai mua lại từ người đàn ông (không rõ lai lịch) làm phương tiện di chuyển. CQĐT tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
  • 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 nón kết, 01 dép kẹp hiệu Doctor, 01 quần jean ống dài màu xanh là trang phục Lê Quí T mặc khi đi trộm; 01 áo sơ mi caro ngắn tay sọc trắng đen, 01 quần shot jean màu xanh, 01 nón kết màu xám, 01 đôi dép quai ngang màu nâu là trang phục Trần Thành D mặc khi đi trộm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Hành vi của các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng tội các bị cáo, không oan.

Tại Bản Cáo trạng số 81/CT-VKSBL ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã truy tố các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Quí T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Thành D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc, bị hại Nguyễn Duy L1 yêu cầu các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D liên đới bồi thường số tiền 15.500.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 15.500.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 15.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Đề nghị tiếp tục tạm giữ số tiền 500.000đồng do các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D nộp vào tài khoản số 3949.0.9042415.00000 của Công an huyện B tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L theo giấy nộp tiền mặt ngày 27/5/2024 để đảm bảo thi hành án.
  • 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 nón kết, 01 dép kẹp hiệu Doctor, 01 quần jean ống dài màu xanh là trang phục Lê Quí T mặc khi đi trộm; 01 áo sơ mi caro ngắn tay sọc trắng đen, 01 quần shot jean màu xanh, 01 nón kết màu xám, 01 đôi dép quai ngang màu nâu là trang phục Trần Thành D mặc khi đi trộm. Tại phiên tòa các bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias màu đỏ đen, biển số 66G1-129.15, số khung: 10DY078132, số máy: 44S1078140; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 66G1- 129.15 tên chủ xe Lê Hữu H. Qua điều tra xác định xe 66G1-129.15, anh H đã bán cho người không rõ nhân thân vào năm 2007, không xác định chuyển nhượng bao nhiều chủ sở hữu, Lê Quí T khai mua lại từ người đàn ông (không rõ lai lịch) làm phương tiện di chuyển nên đề nghị giao CQĐT tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2] Xét hành vi của các bị cáo: Các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do không tiền tiêu xài nên khoảng 06 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, bị cáo Lê Quí T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias biển số 66G1 - 129.15 chở bị cáo Trần Thanh D1 đến nhà anh Nguyễn Duy L1 ở ấp H, xã L, huyện B lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Iphone 12 Promax trị giá 14.000.000đ và 01 điện thoại đi động màu đên, nhãn hiệu Vivo Y15 trị giá 1.500.000₫ của anh L1, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 15.500.000đ. Sau đó, các bị cáo T và D1 bán cho một thanh niên không rõ nhân thân lai lịch được 2.000.000đ, các bị cáo chia nhau tiêu xài hết.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như sơ đồ, bản ảnh hiện trường vụ án. Trong vụ án này bị cáo T là người khởi xướng và rủ rê bị cáo D1 đi trộm cắp tài sản. Bị cáo D1 là người đứng bên ngoài cảnh giới cho bị cáo T là người thực hành hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 15.500.000 đồng. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự địa phương. Việc trộm cắp tài sản chỉ mang tính nhất thời, không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công công việc cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo cần được xử lý nghiêm, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, nghiêm khắc mới có tác dụng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến vai trò của từng bị cáo trong vụ án đồng phạm để xử phạt các bị cáo mức án vừa có tính chất răn đe, vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Xét tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc, bị hại Nguyễn Duy L1 yêu cầu các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D liên đới bồi thường số tiền 15.500.000đ. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 15.500.000 đồng nên ghi nhận buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 15.500.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tiếp tục tạm giữ số tiền 500.000đồng do các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D nộp vào tài khoản số 3949.0.9042415.00000 của Công an huyện B tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L theo giấy nộp tiền mặt ngày 27/5/2024 để đảm bảo thi hành án.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias màu đỏ đen, biển số 66G1-129.15, số khung: 10DY078132, số máy: 44S1078140; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 66G1- 129.15 tên chủ xe Lê Hữu H. Qua điều tra xác định xe 66G1-129.15, anh H đã bán cho người không rõ nhân thân vào năm 2007, không xác định chuyển nhượng bao nhiều chủ sở hữu, Lê Quí T khai mua lại từ người đàn ông (không rõ lai lịch) làm phương tiện di chuyển nên giao CQĐT tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
  • 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 nón kết, 01 dép kẹp hiệu Doctor, 01 quần jean ống dài màu xanh là trang phục Lê Quí T mặc khi đi trộm; 01 áo sơ mi caro ngắn tay sọc trắng đen, 01 quần shot jean màu xanh, 01 nón kết màu xám, 01 đôi dép quai ngang màu nâu là trang phục Trần Thành D mặc khi đi trộm. Tại phiên tòa các bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với người thanh niên (chưa rõ nhân thân) đã mua tài sản chiếm đoạt của bị cáo D và bị cáo T, do các bị cáo cung cấp thông tin đối với người thanh niên trên không đủ cơ sở xác minh, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau.

[9] Về án phí: Các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    2. Xử phạt: Bị cáo Lê Quí T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 16/5/2024.

      Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Quí T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (là ngày 02/8/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

    3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    4. Xử phạt: Bị cáo Trần Thành D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 16/5/2024.

      Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Thành D 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (là ngày 02/8/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự:

    Buộc các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Duy L1 số tiền 15.500.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    1. Tiếp tục tạm giữ số tiền 500.000đồng do các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D nộp vào tài khoản số 3949.0.9042415.00000 của Công an huyện B tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L theo giấy nộp tiền mặt ngày 27/5/2024 để đảm bảo thi hành án.
    2. Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 nón kết, 01 dép kẹp hiệu Doctor, 01 quần jean ống dài màu xanh là trang phục Lê Quí T mặc khi đi trộm; 01 áo sơ mi caro ngắn tay sọc trắng đen, 01 quần shot jean màu xanh, 01 nón kết màu xám, 01 đôi dép quai ngang màu nâu là trang phục Trần Thành D mặc khi đi trộm.

      (Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024).

    3. Giao Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý theo quy định pháp luật đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias màu đỏ đen, biển số 66G1-129.15, số khung: 10DY078132, số máy: 44S1078140; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 66G1- 129.15 tên chủ xe Lê Hữu H (Vật chứng hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện B đang tạm giữ).
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và các bị cáo bị cáo Lê Quí T và Trần Thành D phải liên đới chịu 775.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Bến Lức;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bến Lức;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Lức;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Lưu: Án văn, Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quí Tâm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger