|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 81/2025/HSST Ngày: 25/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Hải
Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 05/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXX ngày 13/6/2025, đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn H; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 18/11/1985, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B, sinh năm 1964 và bà Ngọ Thị Đ, sinh năm 1963; Có vợ là: Đỗ Thị H1, sinh năm 1989; vợ chồng có 03 con chung; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 21/10/2014 bị Công an xã T, huyện P (nay là phường T, thành phố P) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 75/QĐ-XPVPHC, nộp phạt xong ngày 21/10/2014, đã được xóa vi phạm; Ngày 30/3/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 30/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 28/9/2016, chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung ngày 22/12/2016, đương nhiên được xóa án tích; Ngày 27/6/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 89/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 03/06/2021, chấp hành xong án phí ngày 25/10/2019, đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2025, đến ngày 10/4/2025 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn Đ1; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 12/12/1982, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1952 (đã chết) và bà Tạ Thị M, sinh năm: 1954; Có vợ là: Tạ Thị T, sinh năm: 1987; Vợ chồng có 02 con chung. Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 28/3/2020 bị C (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề” tại Quyết định số 0003961/QĐ-XPHC. Ngày 27/04/2020 thi hành xong tiền phạt, đã được xóa vi phạm.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2025, đến ngày 10/4/2025 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Viết V; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 09/6/1987, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Viết T1, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1966; Có vợ là: Nguyễn Thị V1, sinh năm: 1987; Vợ chồng có 04 con chung; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2025, đến ngày 10/4/2025 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Hà Văn K1, sinh năm 1986; Trú tại: TDP Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 01/4/2025, tổ công tác của Công an phường T làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện tại phòng khách nhà Nguyễn Văn Đ1, thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên có 03 nam giới gồm: Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V và Hoàng Văn H đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ba cây được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Thu giữ trên chiếu nơi các đối tượng sử dụng đánh bạc số tiền 5.020.000 đồng (Năm triệu không trăm hai mươi nghìn đồng); 01 bộ bài gồm 36 quân (từ A đến 9) và 01 chiếu nhựa. Sau đó, tổ công tác của Công an phường T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong những đồ vật liên quan theo quy định, sau đó Công an phường T đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 5.020.000 đồng (Năm triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2; 01 (Một) chiếc chiếu nhựa hoa văn màu xanh trắng, KT 1,8x3m, đã qua sử dụng; 36 (Ba mươi sáu) quân bài tú lơ khơ, gồm các quân bài từ “A” đến “9”, đã qua sử dụng. Tất cả số vật chứng trên được chuyển đến
tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Quá trình điều tra, các đối tượng bị bắt khai nhận như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/4/2025, Đ1 cùng V sau khi ăn cơm, uống rượu với nhau tại nhà ông Nguyễn Viết T1 (sinh năm 1968) là bố đẻ của Vịnh ở xóm T, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì Đ1 và V về nhà Đ1 uống nước nói chuyện. Quá trình Đ1 và V nói chuyện có Hậu sang chơi. Sau đó, V rủ Đ1 cùng H đánh bạc dưới hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền Việt Nam thì Đ1 và H đồng ý. Đương lấy 01 chiếc chiếu nhựa hoa văn màu xanh trắng, H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân có sẵn tại nhà Đ1 rồi cùng V ngồi tại phòng khách của nhà Đ1 để đánh bạc.
Về cách thức đánh ba cây được các đối tượng quy ước như sau: Đương, V, H chọn ngẫu nhiên một người cầm chương để chia bài. Sau đó người cầm chương chia đều cho mỗi người chơi 03 quân bài, các quân bài còn lại úp xuống dưới chiếu. Quy ước mỗi ván đặt số tiền tối thiểu là 50.000 đồng. Người chơi nhận 03 quân bài rồi cộng điểm cả 03 quân bài lại, quy ước quân “A” là 01 điểm, lần lượt từ quân 2 đến quân 9 tương đương với số điểm, nếu tổng số điểm lớn hơn 10 thì chỉ tính điểm ở hàng đơn vị. Sau đó từng người sẽ so sánh điểm với người cầm chương, người nào có số điểm cao hơn sẽ thắng. Nếu người chơi và người cầm chương bằng điểm nhau thì sẽ so sánh theo chất từ cao đến thấp theo thứ tự là “rô, cơ, tép, bích”. Người thua sẽ phải trả cho người thắng số tiền bằng đúng số tiền đã đặt. Nếu người thắng được 10 điểm (gọi là “Đủ”) thì người thua phải trả gấp đôi số tiền đã đặt. Người nào được 10 điểm thì sẽ cầm chương ở ván tiếp theo. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 16 giờ 05 phút ngày 01/4/2025 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như trên. Trong số tiền 5.020.000 đồng bị thu giữ, thì Đ1 có 250.000 đồng, V có 970.000 đồng, H có 3.800.000 đồng.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 73/CT - VKS PY ngày 04/6/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V về tội "Đánh bạc", quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: vào khoảng từ 15 giờ 30 phút đến 16 giờ 05 phút ngày 01/4/2024, các bị cáo gồm Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V đã tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây, sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng. Khi tham gia đánh bạc, H mang theo 5.000.000 đồng, cho Đ1 vay 500.000 đồng, cho V vay 1.000.000 đồng; H còn lại 3.500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, H có 3.800.000 đồng; Đ1 không có tiền nên vay của H 500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang, Đ1 bị thua còn lại số tiền 250.000 đồng; Vịnh có 20.000 đồng, sau đó vay của H 1.000.000 đồng và sử dụng số tiền 1.020.000 đồng để đánh bạc và bị thua, khi bị bắt quả tang còn lại 970.000 đồng. Các bị cáo xác định số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 5.020.000 đồng là tiền của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc; Các bị cáo không phải trả tiền cho Đ1 để được đánh bạc tại nhà Đ1, không có ai đứng ra cảnh giới, thu hồ lỳ cũng như không có ai
bỏ về trước. Vịnh là người rủ các bị cáo khác đánh bạc, H là người lấy bộ bài 52 quân và trực tiếp bỏ các quân đầu người, còn lại 36 quân và Đ1 là người lấy chiếu trải phòng khách để các bị cáo cùng đánh bạc. Các bị cáo xác định cáo trạng VKS truy tố các bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng, không oan.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V phạm tội “ Đánh bạc”.
Về hình phạt chính:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS phạt các bị cáo 10.000.000 đồng đến12.000.0000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.020.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài và 01 chiếc chiếu nhựa hoa văn màu xanh; về án phí: các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng các bị cáo đều ăn năn, hối hận về hành vi vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2]. Người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của những người này
không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định của pháp luật.
[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi, các bị cáo Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc như bản cáo trạng đã mô tả. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại quá trình điều tra và tại phiên tòa là khách quan, thống nhất với lời khai của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được... Do đó, HĐXX có căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ 30 phút đến 16 giờ 10 phút ngày 01/4/2025, các đối tượng Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây, sát phạt nhau bằng tiền tại nhà ở của Đ1 tại TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 5.020.000 đồng (năm triệu không trăm hai mươi nghìn đồng). Các bị cáo tham gia đánh bạc đều xác định số tiền trên là số tiền sử dụng để đánh bạc trong đó Hoàng Văn H sử dụng 3.500.000 đồng, Nguyễn Văn Đ1 sử dụng 500.000 đồng, Nguyễn Viết V sử dụng 1.020.000 đồng để đánh bạc.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi, muốn có tiền bằng việc sát phạt lẫn nhau nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi, ý thức của các bị cáo đã đủ căn cứ cấu thành tội “Đánh bạc”, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng luật.
Cụ thể Điều 321 BLHS năm 2015 có nội dung:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[4]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội:
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước mà chính việc các bị cáo tụ tập rủ nhau đánh bạc, sát phạt tiền bạc của nhau để kiếm lời còn gây thiệt hại về tài sản của mình và người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử là cần thiết nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền Việt Nam đồng là hoàn toàn tự phát, các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước, không có người cầm đầu, trong khi tham gia đánh bạc không có sự bàn bạc hoặc phân công vai trò hoặc người cảnh giới. Trong vụ án này, Nguyễn Văn H2 là
người chuẩn bị bộ bài để đánh bạc và cho V và Đ1 vay tiền để đánh bạc, số tiền bị cáo bỏ ra để đánh bạc cũng là nhiều nhất do vậy bị cáo giữ vai trò cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo Nguyễn Viết V là người rủ Đ1 và H2 đánh bạc, bị cáo Đ1 cho các bị cáo khác đánh bạc tại nhà và là người chuẩn bị chiếu để đánh bạc, đồng thời các bị cáo cũng là người tham gia đánh bạc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, do vậy vai trò của bị cáo V và Đ1 là ngang nhau.
[6]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:
Về nhân thân các bị cáo:
- + Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1: Ngày 28/3/2020 bị C (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề” tại Quyết định số 0003961/QĐ-XPHC. Ngày 27/04/2020 thi hành xong tiền phạt, tính đến thời điểm phạm tội đã được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng là tình tiết về nhân thân cần xem xét đến khi lượng hình đối với bị cáo.
- + Đối với Bị cáo Hoàng Văn H: là người có nhân thân xấu, cụ thể: ngày 21/10/2014 bị Công an xã T, huyện P (nay là phường T, thành phố P) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 75/QĐ-XPVPHC; Ngày 30/3/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 30/2016/HSST; Ngày 27/6/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 89/2019/HSST. Mặc dù bị cáo đã được xóa vi phạm, xóa án tích đối với các bản án trên nhưng là người có nhân thân xấu, cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
- + Đối với bị cáo Nguyễn Viết V chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác nên được coi là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo V, bị cáo Đ1 đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị cáo Đ1 có bố đẻ là ông Nguyễn Văn K được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[7]. HĐXX nhận định về hình phạt cần áp dụng: Đánh giá về nhân thân, vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: các bị cáo đều xuất thân từ thành phần lao động, xong không chịu khó làm ăn, ham mê vận đỏ đen, kiếm lợi nhuận bằng hình thức sát phạt tiền của nhau. Các bị cáo đều nhận thức được rằng đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Do vậy việc đưa ra xét xử đối với các bị cáo là cần thiết, để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những
người công dân tốt, chấp hành chính sách pháp luật của nhà nước và làm gương răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo Nguyễn Viết V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Theo hướng có lợi cho người phạm tội, căn cứ về điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/VBHN -TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Hoàng Văn H, HĐXX thấy rằng: Bị cáo Đương năm 2020 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề” tại Quyết định số 0003961/QĐ-XPHC Ngày 28/3/2020; bị cáo H đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc năm 2014, bị xét xử về tội đánh bạc năm 2016, đến năm 2019 tiếp tục bị đưa ra xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng các bị cáo là người có nhân thân xấu. Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN -TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo Đ1, H không được hưởng án treo, do đó cần xử phạt tù, buộc các bị cáo Đ1, H cách ly khỏi đời sống một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên HĐXX thấy rằng bị cáo Đ1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn dưới mức đề nghị của đại diện VKS. Đối với lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên với bị cáo V, bị cáo H tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với hành vi của các bị cáo nên được chấp nhận.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 3 Điều 321 BLHS thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 50.000.000 đồng”. Để nâng cao mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm xét cần thiết phạt bổ sung đối với các bị cáo một khoản tiền nhất định để sung công quỹ nhà nước.
[9]. Xử lý vật chứng: Về số tiền thu được là 5.020.000 đồng (Năm triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Các vật chứng khác: gồm 01 chiếc chiếu nhựa hoa văn màu xanh; 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân là công cụ phạm tội, do vậy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10]. Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V phạm tội “Đánh bạc” .
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Hoàng Văn H 12 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/4/2025.
2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/4/2025.
Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Viết V nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Viết V cho UBND xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo hiện đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS, phạt tiền để sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo: Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V mỗi bị cáo 10.000.000 đồng.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
4.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi bên trong có 01 bộ bài gồm 36 (ba mươi sáu) quân bài tú lơ khơ, gồm các quân bài từ “A” đến “9”, đã qua sử dụng
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa CQĐT Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 12 tháng 6 năm 2025).
4.2. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 5.020.000 đồng (Năm triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
(Theo ủy nhiệm chi chuyển tiền số 198 lập ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa đơn vị trả tiền Công an tỉnh T và đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên).
5. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Viết V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước;
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 BLTTHS.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo tại phiên tòa. Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Thị Bích Ngọc |
Bản án số 81/2025/HSST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 81/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn H và đồng phạm phạm tội đánh bạc
