|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2025/HSST
Ngày: 17-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Lệ
- Ông Nguyễn Công Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ - Thư ký của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Đà Nẵng: Ông Đỗ Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 đối với:
Lê Quốc H, sinh ngày 12/01/1993 tại Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ D, phường H, thành phố Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 01/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc D (chết) và bà Phạm Thị M (1971); bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012 và con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 29/6/2021, bị TAND quận Liên Chiểu (cũ) xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 51/2021/HSST.
Nhân thân:
- + Ngày 31/10/2025, bị Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an thành phố Đ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
- + Ngày 18/3/2021, bị Công an quận L, TP . xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
- + Ngày 19/6/2020, bị Công an phường H, quận L, TP . (nay là Công an phường H, TP .) xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/8/2025; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng một tuần trước ngày bị bắt quả tang (ngày 04/8/2025) Lê Quốc H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, gắn sim số 0934885951 liên lạc cho một nam thanh niên tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.100.000 đồng (Một triệu, một trăm nghìn đồng) tiền ma tuý đá thì được B đồng ý bán và hẹn giao tại khu vực cầu R, thành phố Đà Nẵng. Sau đó H bắt xe ôm đi đến khu vực cầu R (một) gói ma tuý đá được bỏ trong 01 (một) gói thuốc lá để dưới 01 (một) gốc cây và để tiền lại vị trí này theo chỉ dẫn của B rồi bắt xe ôm về nhà tại địa chỉ K đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, H lấy một ít ma tuý đá ra sử dụng trước, tiếp đến trưa ngày 04/8/2025, H tiếp tục chia một ít ma tuý đá bỏ vào gói ny lông rồi bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá hiệu JET và cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc để mang đi tìm nơi sử dụng, khi đến trước số nhà K N thì bị lực lượng Công an phường H, thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ (niêm phong ký hiệu A).
Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Quốc H tại địa chỉ K đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng, thu giữ:
- - Trên nền nhà tại phòng khách (sát phòng ngủ): 01 (một) gói ny lông kích thước (07x04)cm chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (niêm phong ký hiệu B). Lê Quốc H khai nhận đây là ma tuý đá của H cất giấu để nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
- - Thu giữ trong thùng nhựa ngoài sân bên trái nhà: 01 (một) cân điện tử màu đen bạc; 01 (một) đoạn ống hút màu xanh dài khoảng 18cm và 01 (một) đoạn ống hút dài 11cm được cắt nhọn một đầu. Lê Quốc H khai nhận các dụng cụ này được dùng để chia nhỏ ma tuý để sử dụng.
Tại kết luận giám định số: 665/KL – KTHS ngày 12/8/2025 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận: Tinh thể rắn màu trắng trong các bì niêm phong ký hiệu A, B gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamin; khối lượng mẫu A: 0,235 gam, mẫu B: 0,856 gam.
Quá trình điều tra, H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS-KV4 ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025), xử phạt bị cáo Lê Quốc H mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) bì giấy của Phòng K dán kín (có dán băng keo trong bên ngoài tại vị trí mép dán mặt sau), ký hiệu A được niêm phong bởi các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. Bên trong bì niêm phong có 01 (một) gói ny lông chứa 0,141 gam mẫu A và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả.
- + 01 (một) bì giấy của Phòng K dán kín (có dán băng keo trong bên ngoài tại vị trí mép dán mặt sau), ký hiệu B được niêm phong bởi các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. Bên trong bì niêm phong có 01 (một) gói ny lông chứa 0,712 gam mẫu B và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả.
- + 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu JET màu trắng; 01 (một) cân điện tử màu đen bạc; 01 (một) đoạn ống hút màu xanh, dài khoảng 18cm; 01 (một) đoạn ống hút dài 11cm, được cắt nhọn một đầu.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 860823054287408, Imei 2 : 860823054287416, gắn sim số: 0934885951.
* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo H số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04 tháng 8 năm 2025 tại trước số nhà K đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng, Lê Quốc H có hành vi tàng trữ 0,235 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại địa chỉ K đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng thu giữ thêm 0,856 gam ma tuý, loại Methamphetamine do H cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Lê Quốc H phải chịu trách nhiệm với toàn bộ số ma tuý đã bị thu giữ khi bị bắt quả tang và khi khám xét chỗ ở với tổng khối lượng 1,091 gam.
Hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên biết rất rõ các tác hại mà ma túy mang lại, biết rõ ma túy là loại độc dược do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển...trái phép các chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào thế nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và tệ nạn xã hội, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử phạt bị cáo H mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Cần phải cách ly bị cáo một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Quốc H có 01 (một) tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu, nhiều lần bị Công an xử phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo H cần áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo mới thoả đáng.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự, vật chứng bị thu giữ trong vụ án này được xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) bì giấy của Phòng K dán kín (có dán băng keo trong bên ngoài tại vị trí mép dán mặt sau), ký hiệu A được niêm phong bởi các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. Bên trong bì niêm phong có 01 (một) gói ny lông chứa 0,141 gam mẫu A và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả.
- + 01 (một) bì giấy của Phòng K dán kín (có dán băng keo trong bên ngoài tại vị trí mép dán mặt sau), ký hiệu B được niêm phong bởi các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. Bên trong bì niêm phong có 01 (một) gói ny lông chứa 0,712 gam mẫu B và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả.
- + 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu JET màu trắng; 01 (một) cân điện tử màu đen bạc; 01 (một) đoạn ống hút màu xanh, dài khoảng 18cm; 01 (một) đoạn ống hút dài 11cm, được cắt nhọn một đầu.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 860823054287408, Imei 2 : 860823054287416, gắn sim số: 0934885951.
[8] Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:
- - Đối với người thanh niên tên B đã bán ma tuý cho Lê Quốc H và người thanh niên tên T đã cho H số điện thoại của B, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của 02 (hai) đối tượng này nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
- - Đối với bà Phạm Thị M là mẹ ruột của bị cáo Lê Quốc H, do bà M không biết việc H đã cất giấu và sử dụng ma tuý tại nhà nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
- - Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” của Lê Quốc H, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
[9].Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc H 04 (Bốn) năm tù.
- Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/8/2025.
- - Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bổ sung bị cáo Lê Quốc H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự, tuyên:
- * Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) bì giấy của Phòng K dán kín (có dán băng keo trong bên ngoài tại vị trí mép dán mặt sau), ký hiệu A được niêm phong bởi các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. Bên trong bì niêm phong có 01 (một) gói ny lông chứa 0,141 gam mẫu A và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả.
- + 01 (một) bì giấy của Phòng K dán kín (có dán băng keo trong bên ngoài tại vị trí mép dán mặt sau), ký hiệu B được niêm phong bởi các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. Bên trong bì niêm phong có 01 (một) gói ny lông chứa 0,712 gam mẫu B và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả.
- + 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu JET màu trắng; 01 (một) cân điện tử màu đen bạc; 01 (một) đoạn ống hút màu xanh, dài khoảng 18cm; 01 (một) đoạn ống hút dài 11cm, được cắt nhọn một đầu.
- * Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 860823054287408, Imei 2 : 860823054287416, gắn sim số: 0934.885.951.
- (Toàn bộ vật chứng nêu trên, Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Đà Nẵng đang tạm giữ, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/11/2025).
- Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Quốc H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Thọ |
6
Bản án số 81/2025/HSST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 81/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Le Quoc Hong
