|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2025/HSST
Ngày: 03/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bạch Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phan Anh, bà Nguyễn Thị Cờ.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân quận Đống Đa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Thu H, sinh năm 1974; Tại: Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số C phố T, phường K, quận B, thành phố H; Nơi cư trú: Lang thang, không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ và bà Đồng Thị K; Chồng là Nguyễn Văn P (đã ly hôn); Có 03 con (lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 3 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Ra trại ngày 15/8/2018, đã xóa án tích).
D chỉ bản số 69 do Công an phường V - Q, quận Đ lập ngày 02/01/2025.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Ông Đỗ Văn V, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: Số D ngách A ngõ T, phường T, quận Đ, thành phố H. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 02/01/2025, Trần Thị Thu H đi vào cửa hàng V1 tại số F phố N, phường V - Q, quận Đ, thành phố H do anh Đỗ Văn V là chủ cửa hàng, để xem trang sức. Quá trình xem, anh V để trên mặt cửa kính của cửa hàng 02 khay trang sức sau đó tiếp tục bán hàng. Do thấy tài sản không ai trông giữ nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H lén lút lấy trộm 02 đôi khuyên tai (04 chiếc khuyên tai) của cửa hàng nhét vào túi áo khoác bên phải của H đang mặc thì bị anh V phát hiện và hô hoán. Thấy vậy, H liền thò tay vào túi áo lấy ra 03 chiếc khuyên tai trộm cắp được nhét vào mồm và nuốt. Anh Đỗ Văn V đã giữ H và báo Công an phường V đến làm rõ sự việc. Khi Cơ quan Công an đến, H thành khẩn khai nhận hành vi và tự nguyện giao nộp 01 chiếc khuyên tai còn lại trong túi áo. Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa H vào bệnh viện X để gắp dị vật trong dạ dày (phần thân vị) của H và thu giữ 03 chiếc khuyên tai bằng kim loại màu vàng còn lại sau đó đưa H cùng tang vật về trụ sở để làm việc.
Vật chứng vụ án
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ đồ vật tài sản của Trần Thị Thu H gồm:
- 01 (một) chiếc khuyên tai nữ, bằng kim loại màu vàng trong túi áo khoác phía bên phải H mặc.
- 03 (ba) chiếc khuyên tai nữ, bằng kim loại màu vàng được gắp ra từ dạ dày (phần thân vị) của H.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ 01 USB Kingston màu bạc chứa hình ảnh trích xuất từ camera tại Cửa hàng V1 (địa chỉ: Số F N, phường V - Q, quận Đ, thành phố H) ghi lại hình ảnh hành vi trộm cắp tài sản của Trần Thị Thu H do anh Đỗ Văn V giao nộp để phục vụ điều tra.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ kết luận: “02 (hai) đôi khuyên tai bằng kim loại màu vàng (loại 10K), chưa qua sử dụng, đã thu hồi tại thời điểm hiện tại định giá 5.000.000 đồng”.
Xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã tạm giữ của Trần Thị Thu H 02 đôi khuyên tai bằng vàng (loại 10K) thuộc sở hữu hợp pháp của anh Đỗ Văn V. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 1081/QĐ-ĐTTH ngày 20/02/2025 trả lại cho anh Đỗ Văn V số tài sản trên. Anh V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSĐĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Trần Thị Thu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Thu H khai nhận hành vi như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ quyền công tố, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nêu trên và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H mức án từ 08 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Văn V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, trong quá trình điều tra, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 02/01/2025, tại cửa hàng V1 (địa chỉ: Số F N, phường V - Q, quận Đ, thành phố Hà Nội), Trần Thị Thu H đã có hành vi trộm cắp 02 đôi khuyên tai bằng vàng (loại 10K) của anh Đỗ Văn V. Tổng số tài sản Trần Thị Thu H đã chiếm đoạt trị giá 5.000.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Như vậy, hành vi của bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút trộm cắp tài sản. Nhân thân bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tính đến ngày bị cáo phạm tội thì tiền án này đã được xóa án tích, song vẫn chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Bị cáo đã được giáo dục bằng pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội. Như vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và làm bài học ngăn ngừa tội phạm nói chung.
Các tình tiết giảm nhẹ được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo: Khai báo thành khẩn; Ăn năn hối cải. Tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Văn V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Về vật chứng vụ án: Không.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và cùng với người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025.
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Vật chứng vụ án: Không.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhân :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Bạch Phượng |
Bản án số 81/2025/HSST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 81/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
