TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2025/HS-ST
Ngày: 28-05-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng
Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2025 đối với các bị cáo:
01. Đoàn Văn T, sinh năm 1987 (tên gọi khác: Không)
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T1 và bà Đỗ Thị H (Đều đã chết); vợ: Lê Thị D (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2015.
Danh chỉ bản số: 169 lập ngày 27/02/2025 tại Công an huyện C, Thành phố Hà Nội.
Tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 96/2023/HSST ngày 22/06/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xử phạt 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2024 (Chưa xóa án tích).
Nhân thân:
- + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 499/2009/HSST ngày 31/8/2009, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/8/2009 đã nộp 200.000 đồng án phí (Đã xóa án tích).
- + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 439/2012/HSST ngày 16/8/2012, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2014. Ngày 18/6/2015 đã nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm, anh phí Dân sự và tiền sung Ngân sách Nhà nước (Đã xóa án tích).
- + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 208/2016/HSST ngày 16/5/2016, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 10 (Mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2016. Ngày 29/7/2016 đã nộp 200.000 đồng án phí (Đã xóa án tích).
- + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 210/2018/HSST ngày 27/11/2018, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/01/2021. Ngày 13/7/2020 đã nộp 200.000 đồng án phí (Đã xóa án tích).
- + Ngày 28/5/2021, Công an huyện T, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 105/QĐ-XPVPHC, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Tính đến 24/02/2025 đã hết thời hiệu thi hành).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2025.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
02. Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982.
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: khu D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hòa Bình; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân M, con bà Phạm Thị L (Đã chết); chồng: Nguyễn Văn H1 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005).
Danh chỉ bản số: 150 lập ngày 29/03/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ, tạm giam: Không.
Hiện tại ngoại tại: khu D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hòa Bình
Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Ông Nguyễn Chí N, sinh năm 1960
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1963
Cư trú: Ngõ H, tổ dân phố A, phường K, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn T thuê nhà trọ M1, Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hà Nội để ở. Đoàn Văn T có quen biết Nguyễn Thị T3 cũng đang thuê nhà trọ ở thị trấn C, huyện C, Thành phố Hà Nội. Hằng ngày, T đi làm thuê, trên đường đi Thùy hay để ý xem nhà nào có tài sản sơ hở sẽ trộm cắp. Thùy quan sát thấy trên vỉa hè đường tỉnh lộ 419, trước cửa nhà bà Tô Thị T5 ở tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C thường để 01 chiếc xe điện 03 bánh, loại xe thường dùng cho người khuyết tật sử dụng (chiếc xe là tài sản của ông Nguyễn Chí N là anh chồng bà T5), T có ý định trộm cắp chiếc xe điện trên để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Thùy rủ T3 cùng đi trộm cắp xe điện 03 bánh của ông N, được T3 đồng ý.
Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 24/02/2025, T chuẩn bị dụng cụ kìm cộng lực cắt bẻ khóa và sợi dây, rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29Y7-130.38 chở T3 đi trên Tỉnh lộ 419 đến gần trước cửa nhà bà T5 thì dừng lại. T3 đứng ở xe máy cảnh giới cho T lấy trộm xe 03 bánh. T cầm chiếc kìm cộng lực đến chỗ xe điện, lén lút dùng kìm cộng lực cắt dây xích khoá ở bánh sau xe, rồi dùng 01 sợi dây chuẩn bị sẵn buộc nối xe 3 bánh vào sau xe mô tô. Sau đó, nhanh chóng điều khiển xe mô tô chở T3 và kéo theo xe 3 bánh đi về khu phòng trọ. Thùy tiếp tục kéo xe 03 bánh đến gửi tại quán nước của bà Nguyễn Thị T4, trú tại Tổ dân phố A, phường K, quận H, Thành phố Hà Nội, rồi mới đi về phòng trọ ngủ. Đến sáng ngày 24/02/2025, biết tin Công an thị trấn C mời lên làm việc, T và T3 đã ra đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe điện 03 bánh của ông Nguyễn Chí N. Cơ quan điều tra đã thu hồi lại vật chứng liên quan.
* Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, biển kiểm soát: 29Y7-130.38, màu sơn trắng đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) sợi dây dù màu xanh, dài 4,4m; 01 (một) chiếc kìm cộng lực màu đen (thu giữ của Đoàn Văn T).
- + 01 (một) xe điện ba bánh nhãn hiệu E-Bike, màu sơn đỏ đen, cũ đã qua sử dụng (thu giữ của bà Nguyễn Thị T4).
* Kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG ngày 26/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe điện nhãn hiệu E-Bike, màu sơn đỏ đen, loại xe ba bánh; mua cũ vào tháng 04/2024 với giá 3.000.000 đồng. Xe cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 02/2025 có giá trị là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nguồn gốc phương tiện xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, số khung RLHHC1259FY337544, số máy HC12E – 7336844, đeo biển kiển soát: 29Y7-130.38 (là biển kiểm soát giả) mà Đoàn Văn T sử dụng chở Nguyễn Thị T3 đi trộm cắp tài sản.
* Tại Kết luận giám định số: 1947 ngày 01/4/2025 của Phòng PC09 - Công an T7, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, đeo biển kiểm soát 29Y7-130.38, có số khung RLHHC1259FY337544 và số máy HC12E – 7336844 là số nguyên thủy.
Theo T khai nhận: Thùy không trộm cắp xe mô tô đeo biển kiểm soát 29Y7-130.38 (là biển kiểm soát giả). Khoảng tháng 09/2024, T mua chiếc xe mô tô này của người không quen biết ở 01 cửa hàng mua bán xe máy cũ tại quận H, Thành phố Hà Nội với giá 2.500.000 đồng, T không biết là xe do phạm tội mà có. Cơ quan Điều tra đã tiến hành điều tra làm rõ, đã xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Đinh Thế D2, sinh năm 1995; trú tại: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Anh D2 mua lại chiếc xe trên từ anh Hoàng Văn T6, sinh năm 1996 (ở cùng thôn với anh D2, là chủ sở hữu ban đầu của chiếc xe mô tô trên) từ tháng 10/2024. Quá trình sử dụng, anh D2 bị kẻ gian trộm cắp chiếc xe mô tô trên vào khoảng tháng 10/2024 (cách thời điểm mua xe khoảng 1 tuần) tại đường Q, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội. Đến ngày 02/04/2025 anh Đinh Thế D2 mới đến Công an phường N, quận T, Thành phố Hà Nội trình báo bị mất trộm xe. Do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã bàn giao lại chiếc xe trên đến Phòng PC02 - Công an Thành phố T7 để thụ lý giải quyết theo quy định.
* Xử lý vật chứng:
- + Ngày 26/3/2025, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe điện ba bánh nhãn hiệu E-Bike, màu sơn đỏ đen cho ông Nguyễn Chí N (bị hại) quản lý, sử dụng.
- + Bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, đeo biển kiểm soát 29Y7-130.38, có số khung RLHHC1259FY337544 và số máy HC12E - 7336844, đeo biển kiểm soát 29Y7-130.38 (là biển kiểm soát giả) cho Phòng PC02 Công an Thành phố T7 để xử lý trong vụ án xảy ra vào tháng 10 năm 2024 ở Phường N, Quận T, Thành phố Hà Nội.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp, ông Nguyễn Chí N không yêu cầu đề nghị bồi thường gì về dân sự.
* Vật chứng còn thu giữ: 01 (một) sợi dây dù màu xanh, dài 4,4m; 01 (một) chiếc kìm cộng lực màu đen.
Cáo trạng số: 66/CT-VKS-CM ngày 08/05/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như bản cáo trạng đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đoàn Văn T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tích từ ngày 25/02/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị T3 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam, biện pháp cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú; các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, trưng cầu định giá tài sản, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình điều tra, bị cáo, người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người bị hại là ông Nguyễn Chí N: Trong quá trình điều tra ông Nguyễn Chí N đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Do vậy, việc vắng mặt của ông Nguyễn Chí N không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét lời khai của bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 24/02/2025, tại đường T, trước cửa nhà bà Tô Thị T5 ở tổ dân phố B, thị trấn C, Thành phố Hà Nội, Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 đã lợi dụng đêm tối, lén lút trộm cắp 01 chiếc xe điện 03 bánh, trị giá 2.400.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu, bốn trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Chí N.
Hành vi lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu là ông Nguyễn Chí N rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông N là chiếc xe điện 03 bánh, trị giá 2.400.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu, bốn trăm nghìn đồng) mà Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số: 66/CT-VKS-CM ngày 08/05/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.
Vụ án có tính đồng phạm, xét vai trò của từng bị cáo thì thấy:
- + Bị cáo Đoàn Văn T là người khởi xướng, theo dõi và trực tiếp dùng kìm cộng lực cắt khóa để chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô 03 bánh. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã nhiều lần được giáo dục cải tạo nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để trở thành người tốt, nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có hình phạt tù và có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.
- + Bị cáo Nguyễn Thị T3 khi được bị cáo T rủ đi trộm cắp tài sản đã đồng ý và tham gia một cách tích cực. Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng cũng cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[2.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đoàn Văn T đã có 01 tiền án. Cụ thể: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 96/2023/HSST ngày 22/06/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xử phạt 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2024. Chưa xóa án tích nay lại phạm tội mới, lần phạm tội này là “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi tội phạm bị phát hiện, cả hai bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị T3 nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo Nguyễn Thị T3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Chí N đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường.
[4]. Về xử lý vật chứng:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sợi dây dù màu xanh, dài 4,4m; 01 (một) chiếc kìm cộng lực màu đen.
Về án phí: Các bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- + Ngày 26/3/2025, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe điện ba bánh nhãn hiệu E-Bike, màu sơn đỏ đen cho ông Nguyễn Chí N (bị hại) quản lý, sử dụng là có căn cứ.
- + Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã Bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, đeo biển kiểm soát 29Y7-130.38, có số khung RLHHC1259FY337544 và số máy HC12E – 7336844, đeo biển kiểm soát 29Y7-130.38 (là biển kiểm soát giả) cho Phòng PC02 Công an - Thành phố T7 để xử lý trong vụ án xảy ra vào tháng 10 năm 2024 ở phường N, quận T, Thành phố Hà Nội là có căn cứ.
- + Đối với vật chứng là: 01 (Một) sợi dây dù màu xanh dài 4,4m; 01 (Một) chiếc kìm cộng lực màu đen là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[5]. Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đoàn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2025.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Thị T3 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị T3 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị T3 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sợi dây dù màu xanh dài 4,4m; 01 (Một) chiếc kìm cộng lực màu đen.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 09/05/2025 giữa Công an Thành phố T7 với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Các bị cáo Đoàn Văn T và Nguyễn Thị T3 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- + Người bị hại là ông Nguyễn Chí N vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng Long |
8
Bản án số 81/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 81/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
