Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 81/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Bùi Quang Việt

  • 2. Bà Đặng Thị Huệ Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Huy Phương– Kiểm sát viên.

Ngày 28/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS, ngày 15/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 334/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Biện Hữu Hiếu T1, sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Biện Hữu T2 và bà Lê Thị X; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con;

    Tiền sự: Không;

    Tiền án:

    • Ngày 17/12/2013, bị Toà án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội "Cướp giật T1 sản" (Bản án số 121/2013/HSST);

    • Ngày 14/12/2017, bị Toà án nhân dân quận B xử phạt 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" (Bản án 198/2017/HSST);

    Nhân thân:

    • Ngày 04/8/2010, bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật T1 sản” (Bản án số 160/2010/HSST)

    • Ngày 16/9/2010, bị Toà án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật T1 sản”. Tổng hợp hình phạt với 01 năm 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2010/HSST ngày 04/8/2010 của Toà án nhân dân quận T, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 năm tù.

    Bị cáo bị bắt giam từ ngày 28/12/2023 (Có mặt).

  2. Phan Văn P, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: phường D, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T3 và bà Lê Thị K; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; tiền sự: Không;

    Tiền án:

    • Ngày 29/3/2012, bị Toà án nhân dân quận C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 86/2012/HSST)

    • Ngày 27/9/2013, bị Tòa án nhân dân quận C xử phạt 04 năm tù về tội "cướp giật T1 sản" (Bản án số 256/2013/HSST);

    • Ngày 19/12/2017, Tòa án nhân dân quận C xử phạt 05 năm từ về tội "cướp giật T1 sản", 09 tháng tù về tội "trộm cắp T1 sản". tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 05 năm 09 tháng tù. toà án (Bản án số 197/2017/HSST)

    Bị cáo bị bắt giam từ ngày 28/12/2023 (Có mặt).

Người bào chữa:

  1. Ông Trần Ngọc H1, luật sư của công ty luật TNHH HT thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Phan Văn P (Có mặt)

  2. Ông Đặng Quốc H2, luật sư của công ty luật TNHH LS thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Biện Hữu Hiếu T1 (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Yến N, sinh năm 1997

Thường trú: Phường F, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T1 liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 40 phút, ngày 28/12/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận E phối hợp với Công an Phường H, Quận E tiến hành kiểm tra hành chính Phòng X khách sạn A, địa chỉ Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra, trong Phòng X có Biện Hữu Hiếu T1, Phan Văn P và Trần Thị Thanh H. Qua kiểm tra P hiện thu giữ trên bàn trong phòng 01 gói nylon màu cam và 03 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 42,0959 gam, loại Methamphetamine. T1 và P cùng khai nhận đây là ma túy của T1 mang đến đưa cho P để P bán cho khách. Sau đó, tổ công tác tiến hành thu giữ, niêm phong tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Biện Hữu Hiếu T1 và Phan Văn P về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ 01 điện thoại di động Redmi màu đen, 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, 01 xe gắn máy biển số: 59L2 -265.35, 01 cân tiểu ly.

Kết quả điều tra Biện Hữu Hiếu T1 khai: Vào khoảng 15 giờ, ngày 28/12/2023, Phan Văn P sử dụng Zalo tên “P Lãm” liên hệ với T1 qua T1 khoản Zalo tên “Hiếu T1” được đăng ký bằng số điện thoại 0909.532.xxx để hỏi mua 18.000.000 đồng ma túy loại Methamphetamine và hẹn T1 đến khách sạn A, địa Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để giao dịch mua bán ma túy. Đồng thời, P thỏa thuận với T1 sau khi bán ma túy cho khách thì P sẽ trả tiền cho T1, T1 đồng ý. Sau đó, T1 sử dụng điện thoại di động số 0909.532.xxx gọi cho một người đàn ông tên T4 (không rõ lai lịch) hỏi mua 15.000.000 đồng ma túy loại Methamphetamine, hẹn T4 đến trước nhà phường P, quận T để giao nhận ma túy, T4 đồng ý. Một lúc sau, một người đàn ông (không rõ lai lịch) mặc đồ shipper đến trước nhà gặp T1 và đưa cho T1 01 hộp giấy. T1 nhận hộp giấy và đưa cho người shipper số tiền 15.000.000 đồng. Sau đó, T1 mang toàn bộ số ma túy vừa mua đến khách sạn A gặp P để bán ma túy. Trên đường đi, T1 gọi cho Trần Thị Thanh H (bạn gái của T1) và rủ H đi chơi, H đồng ý. Trên đường đi, T1 không nói cho H biết việc T1 đang cất giấu ma túy đi bán cho người khác. Khi đến khách sạn A thì gặp P đang đứng đợi. T1 thuê Phòng và cùng với P, H đi lên Phòng để đợi khách của P đến giao dịch mua bán ma túy. Khi vào Phòng X, H nằm trên nệm bấm điện thoại, còn T1 thì lấy túi ma túy màu cam đưa cho P xem, P nhìn thấy bên trong có 05 gói nylon chứa ma túy Methamphetamine cùng 01 cân tiểu ly. Lúc này, T1 lấy ra 03 gói ma túy đá để ở trên bàn cho P xem thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Sự việc T1 và P giao dịch “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Phòng X khách sạn A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thì H hoàn toàn không biết và không phụ giúp gì cho T1 và P.

Phan Văn P khai nhận: Vào khoảng 15 giờ ngày 28/12/2023 có một người phụ nữ tên C (không rõ lai lịch) liên hệ với P hỏi mua 20.000.000 đồng ma túy, P đồng ý và nói sẽ gọi lại cho C khi có ma túy. C hẹn P khi có ma túy sẽ giao dịch mua bán tại khách sạn A, địa chỉ Phường H, Quận E. Sau đó, P liên lạc qua Zalo với Biện Hữu Hiếu T1 đặt mua của T1 18.000.000 đồng ma túy Methamphetamine để bán lại số ma túy này cho C (chưa rõ lai lịch) với giá tiền 20.000.000 đồng, P thu lợi 2.000.000 đồng. Cả hai thỏa thuận và giao dịch như trên thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ.

Trần Thị Thanh H khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 00, ngày 28/12/2023, H đang ở nhà thì Biện Hữu Hiếu T1 (bạn trai của H) gọi điện thoại rủ H đi chơi H đồng ý. H kêu T1 đến nhà H số Phường D, quận C đón H. Sau đó T1 chở H đi đến khách sạn A, địa chỉ số Phường H, Quận E gặp P đang đứng đợi. T1 nói với H cùng lên khách sạn với T1 để gặp bạn nói chuyện công việc riêng xong sẽ đi chơi thì H đồng ý. T1 thuê Phòng X của khách sạn rồi cùng với P, X đi lên Phòng. Tại đây, sau khi X đi vệ sinh xong vào nằm trên nệm, đeo tai nghe bấm điện thoại, còn T1 và P ngồi ở góc cạnh bàn làm gì thì X hoàn toàn không để ý. Đến khoảng 16 giờ 40 cùng ngày, Cơ quan Công an vào phòng kiểm tra, bắt giữ T1 và P. H khai không biết và không tham gia cùng T1 mua bán ma túy. Kết quả test ma túy H âm tính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận E đã giải tỏa đối với H.

Tại Bản cáo trạng số 46/CT-VKSTPHCM ngày 10/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Biện Hữu Hiếu T1, Phan Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích, đánh giá những chứng cứ xác định hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Biện Hữu Hiếu T1 từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Phan Văn P từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng.

Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư Đặng Quốc H2 bào chữa cho bị cáo Biện Hữu Hiếu T1 trình bày:

Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị truy tố đối với bị cáo. Luật sư chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, số lượng ma túy đã kịp thời bị thu giữ, bị cáo cũng chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội, từ đó xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Luật sư Trần Ngọc H1 bào chữa cho bị cáo Phan Văn P trình bày:

Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị truy tố đối với bị cáo. Luật sư chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thời điểm phạm tội là giai đoạn vợ bị cáo mang thai, bản thân bị cáo không có công việc ổn định nên đã mắc sai lầm, số ma túy chưa được P tán ra xã hội mà đã được kịp thời ngăn chặn, từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tranh luận đối đáp: Giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và T1 liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T1 liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Các bị cáo và người bào chữa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của các bị cáo:

Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định cùng các T1 liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở xác định:

Vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 28/12/2023, tại Phòng X khách sạn A, địa chỉ Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Biện Hữu Hiếu T1 và Phan Văn P bị bắt quả tang đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ trên bàn trong phòng 01 gói nylon màu cam và 03 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 42,0959 gam, loại Methamphetamine. Số ma túy này T1 mua của đối tượng tên T4 (không rõ lai lịch) bán lại cho P. P mua dự định bán lại cho đối tượng tên C (không rõ lai lịch).

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Biện Hữu Hiếu T1, Phan Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn, xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã nhiều lần phạm tội, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội mới là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Đối với các đối tượng khác:

Đối với người đàn ông tên T4 là người bán ma túy cho Biện Hữu Hiếu T1, đối tượng C mua ma túy của P do T1 và P khai không rõ nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xử lý.

Đối với số điện thoại 0931.861.xxx của người bán ma túy tên T4 qua xác minh do chị Trần Thị Mai L đứng tên chủ thuê bao, chị L khai chị không đăng ký, không sử dụng và không quen biết ai tên T4. Kết quả xác minh T1 khoản zalo số 090216XXXX, 090953XXXX T1 khoản đã ngưng hoạt động, bộ phận kỹ thuật không lưu tin nhắn, hình ảnh nên không có cơ sở để làm rõ.

[5] Hình phạt bổ sung:

Do các bị cáo chưa thu lợi bất chính nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi vụ 234/24 Quận E, có giám định viên Phan Tấn Q (PC09), cán bộ Thái Thanh H3 (Công an Quận E), bên trong có chưa ma túy còn lại, mã số: NP/218BB/2025, là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

  • - Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động Redmi màu đen gắn sim số: (không kiểm tra đời máy, Imei, sim số do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), mã số: DT1/288BB/2025, là điện thoại bị cáo P dùng để liên lạc mua bán ma túy, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  • - Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng gắn sim số: (không kiểm tra đời máy, Imei, sim số do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), mã số: DT2/288BB/2025, là điện thoại của bị cáo T1 dùng để liên lạc mua bán ma túy, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  • - Đối với 01 (Một) cân tiểu ly, mã số: CAN/218BB/2025, là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Xử phạt: Bị cáo Biện Hữu Hiếu T1 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023

  2. [2] Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Xử phạt: Bị cáo Phan Văn P 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023

  3. [3] Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    • * Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi vụ 234/24 Quận E, có chữ ký của giám định viên Phan Tấn Q (PC09), cán bộ Thái Thanh Hòa (Công an Quận E), bên trong có chưa ma túy còn lại, mã số: NP/218BB/2025;

    • * Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

      • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động Redmi màu đen gắn sim số: (không kiểm tra đời máy, Imei, sim số do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), mã số: DT1/288BB/2025;

      • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng gắn sim số: (không kiểm tra đời máy, Imei, sim số do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), mã số: DT2/288BB/2025;

      • - 01 (Một) cân tiểu ly, mã số: CAN/218BB/2025;

      Theo Biên bản giao nhận tang T1 vật số NK2025/218 ngày 25/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. [3] Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)

  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM (1)

  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM (1)

  • - VKSND Tp.HCM; (3)

  • - Cục THA DS Tp.HCM; (1)

  • - Sở Tư pháp Tp.HCM; (1)

  • - Trại giam; (4)

  • - Bị cáo; (2)

  • - Người có QLNVLQ; (1)

  • - Người bào chữa; (2)

  • - THAHS TAND TP.HCM; (2)

  • - Phòng PV06 - CA TP.HCM; (1)

  • - Ủy ban nơi bị cáo cư trú; (2)

  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (26) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự

  • Số bản án: 81/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt các bị cáo tù có thời hạn về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 3 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger