|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ---------- |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- |
|
Bản án số: 81/2025/HS - ST Ngày: 23/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
| Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Văn Chương |
| Thẩm phán: | Ông Lê Quang Chiều |
| Các Hội thẩm nhân dân : | Ông Lê Văn Sự |
| Ông Vũ Văn Thịnh | |
| Bà Nguyễn Thị Thuý | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Lý Minh Chính - Thư ký Tòa án |
| nhân dân Thành phố Hà Nội | |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: | |
| Bà Hoàng Thị Huyền - Kiểm sát viên |
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 800/2024/TLST - HS ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 925/2024/QĐXXST - HS ngày 25/12/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 04/2025/HSST-QĐ ngày 13/01/2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN THANH Q, sinh năm 1980 tại Hà Nội; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT:
Số H Quán T, Phường Q, Quận B, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số D ngõ G T, Phường K, Quận Đ, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Thanh L, con bà Nguyễn Thị H; Có chồng là Phạm D và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; D1, chỉ bản số 237 lập ngày 25/03/2024 tại Công an Quận Đ, Thành phố Hà Nội. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 14/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H (có mặt tại phiên toà).
* Bị hại:
- - Chị Lưu Cẩm C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số F ngách D T, Phường N, Quận Đ, Thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên toà).
- - Anh Hồ Quang V, sinh năm 1978. Địa chỉ: Căn hộ D, Tòa B chung cư IA20, KĐT N, Phường Đ, Quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt tại phiên toà do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số C A, Phường Y, Quận T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt tại phiên toà).
* Người bào chữa cho bị cáo:
- - Ông Bùi Việt A và ông Đoàn Văn T đều là luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn luật sư Thành phố H (vắng mặt tại phiên toà).
- - Ông Nguyễn Quang T1, luật sư thuộc Văn phòng L2, Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 23/11/2023, 19/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an Quận Đ, Thành phố Hà Nội nhận được đơn trình báo của chị Lưu Cẩm C (Sinh năm 1980; Trú tại: Số A Vĩnh Phúc, Phường V, Quận B, Hà Nội) và anh Hồ Quang V (Sinh năm 1978; Trú tại: Căn hộ D, tòa B, chung cư I, KĐT N, Phường Đ, Quận B, Hà Nội) tố giác Nguyễn Thanh Q (sinh năm 1980; Trú tại: Số D ngõ G T, Phường K, Quận Đ, Hà Nội) có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc kêu gọi góp vốn đầu tư kinh doanh.
Để cần tiền tiêu xài cá nhân, trong thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 6/2023, Nguyễn Thanh Q (sinh năm 1980; Trú tại: Số D ngõ G T, Phường K, Quận Đ, Hà Nội) đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách đưa ra thông tin gian dối với các bị hại về việc góp vốn đầu tư kinh doanh kit test covid, bánh trung thu, nụ trầm hương có lợi nhuận cao và giúp đổi tiền mới để chiếm đoạt tổng số tiền 1.334.800.000 đồng của anh Hồ Quang V (sinh năm 1978; Trú tại: Căn hộ D, tòa B, chung cư I, KĐT N, Phường Đ, Quận B, Hà Nội) và chị Lưu Cẩm C (sinh năm 1980; Trú tại: Số A Vĩnh Phúc, Phường V, Quận B, Hà Nội). Sau khi nhận được tiền, Q không thực hiện như cam kết mà chiếm đoạt chi tiêu cho mục đích cá nhân.
Quá trình điều tra xác định cụ thể như sau:
1. Hành vi chiếm đoạt 962.850.000 đồng của chị Lưu Cẩm C (sinh năm 1980; Nơi thường trú: Số F ngách D T, Phường N, Quận Đ, Hà Nội):
Năm 2020 chị Lưu Cẩm C là khách hàng quen hay mua hàng thực phẩm do Nguyễn Thanh Q bán trên Mạng xã hội Facebook. Tháng 10/2022, Q giới thiệu với chị C là có nhiều mối quan hệ để nhập các mặt hàng là nụ trầm hương, trà hoa quả sấy và ô mai từ tỉnh Thừa Thiên Huế với giá rẻ sau đó bán lại cho những khách hàng có sẵn của Q để kiếm lời. Hiện đã có khách hàng đặt mua những mặt hàng trên và đề nghị chị C góp vốn đầu tư sẽ có lợi nhuận cao, Q cam kết trong 01 tháng sẽ giúp chị Chi T2 lại đầy đủ tiền gốc và tiền lãi. Để chị C tin tưởng, Q còn gửi cho chị C xem các tin nhắn Zalo do Q giả lập ra với các khách hàng đặt hàng và yêu cầu chị C chuyển tiền để đặt nhiều đơn hàng và tập hợp chuyển ra cùng một lúc giúp tiết kiệm chi phí. Trong thời gian từ ngày 03/10/2022 đến ngày 10/3/2023 chị C đã sử dụng tài khoản số 0904836228 mở tại ngân hàng S chuyển tiền cho Q vào tài khoản số 19021097488019 mở tại ngân hàng T6 105 lần với tổng số tiền 962.850.000 đồng. Do tình hình kinh doanh không có kết quả, chị C nhiều lần liên hệ để hỏi về công việc nhưng Q đưa ra nhiều lý do để trì hoãn việc trả tiền, hai bên đã thống kê lại số tiền đã chuyển cho Q, nhưng do tính nhầm là 943.000.000 đồng nên Q viết giấy biên nhận đề ngày 14/3/2023 có nội dung: “Hôm nay, ngày 14 tháng 3 năm 2023 tôi có nhận số tiền: 943.000.000 đồng của chị Lưu Cẩm C.... Để hợp tác đầu tư nhập trà hoa quả từ Trung Quốc. Tôi xin hẹn chị Lưu Cẩm C trong vòng 01 tháng sẽ hoàn lại số tiền trên cùng với lãi của việc kinh doanh hàng trà hoa quả. Chậm nhất ngày 29 tháng 07 năm 2023 tôi sẽ hoàn trả 40% số tiền trên và đến ngày 29 tháng 08 năm 2023 sẽ hoàn trả 60% số tiền trên cùng lãi kinh doanh theo thỏa thuận của hai bên cho chị C” đưa cho chị C giữ làm tin. Đến hạn cam kết Q không thực hiện, trốn tránh, không trả lại tiền cho chị C mà chiếm đoạt chi tiêu cho mục đích cá nhân. Tổng số tiền Q đã chiếm đoạt của chị C là 962.850.000 đồng. Chị C thúc giục đòi tiền nhiều lần đến ngày 14/3/2024, Nguyễn Thanh Q đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận Đ đầu thú khai báo về hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 Giấy biên nhận đề ngày 14/3/2023 có nội dung thể hiện Q nhận của chị C số tiền 943.000.000 đồng.
Ngày 29/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 4152 đối với chữ ký, chữ viết của Q trên Giấy biên nhận ngày 14/3/2023.
* Tại Bản kết luận giám định số 5660/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:
Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thanh Q (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ viết đứng tên Nguyễn Thanh Q trên mẫu so sánh ký hiệu M1 và chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thanh Q (dưới chữ ký) trên mẫu so sánh ký hiệu M2 là chữ do cùng một người ký và viết ra.
* Ngày 28/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại Samsung Galaxy Note 8 màu xám, I, lắp sim số 0904836228 của chị Lưu Cẩm C, kết quả:
Trong ứng dụng tin nhắn Z có nhắn tin với tài khoản “Quyên V1” đăng ký số điện thoại 0854.910.xxx, nội dung Q đưa thông tin gian dối với chị C là các đơn hàng khách đặt do Q tự tạo ra.
* Kiểm tra sao kê tài khoản của chị C thể hiện trong thời gian từ ngày 03/10/2022 đến ngày 10/3/2023, chị C đã chuyển khoản 105 lần với tổng số tiền 962.850.000 đồng đến tài khoản số 19021097488019 mang tên Nguyen Thanh Q1 thuộc ngân hàng T6.
*Tại Cơ quan điều tra:
- - Chị Lưu Cẩm C khai như nội dung vụ án đã nêu trên. Ngoài ra, chị C khai số tiền trên “Giấy biên nhận đề ngày 14/3/2023” thể hiện số tiền Q xác nhận đã nhận của chị C là 943.000.000 đồng chênh lệch so với số tiền chị tố giác Q chiếm đoạt là 962.850.000 đồng do thời điểm trên thống kê vội nên có sự nhầm lẫn. Cụ thể sau này chị C đã thống kê lại và đối chiếu trên giao dịch do ngân hàng cung cấp, chị C khẳng định số tiền 962.850.000 đồng là số tiền đã chuyển cho Q và bị Q gian dối chiếm đoạt. Chị C đề nghị Cơ quan pháp luật yêu cầu Q phải trả cho chị số tiền 962.850.000 đồng và xử lý Q theo quy định của pháp luật.
- - Nguyễn Thanh Q khai nhận: Do cần tiền để chỉ tiêu cá nhân Q đã đưa ra thông tin gian dối với chị Lưu Cẩm C là đang kinh doanh mặt hàng nụ trầm hương, trà hoa quả sấy ... có lợi nhuận cao, hiện có nhiều khách đặt hàng. Để chị C tin tưởng chuyển tiền góp vốn kinh doanh Q đã tự tạo các nội dung tin nhắn của khách đặt hàng nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của chị C. Tổng số tiền Q nhận của chị C là 962.850.000 đồng thông qua việc chuyển khoản, đến nay chưa trả lại tiền cho chị C.
2. Hành vi chiếm đoạt số tiền 371.950.000 đồng của anh Hồ Quang V (sinh năm 1978; Trú tại: Căn hộ D, tòa B, chung cư I, KĐT N, Phường Đ, Quận B, Hà Nội).
Năm 2020, anh Hồ Quang V và Nguyễn Thanh Q gặp gỡ và quen biết nhau khi tham gia Ban phụ huynh tại Trường tiểu học K1. Năm 2021, do việc kinh doanh bị thua lỗ cần tiền sử dụng cá nhân nên Q đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh V, cụ thể:
Tháng 02/2022, lợi dụng tình hình dịch C1 -19 lây lan tại Việt Nam, Q nói dối giới thiệu với anh V là có bạn thân tên “Kim Oanh” có thể mua được kittest Hàn Quốc với số lượng lớn, Q đã đầu tư và có lãi cao. Nếu anh V góp vốn đầu tư, lợi nhuận thu được sẽ chia đôi. Quyên thoả thuận 02 ngày sau Q sẽ trả tiền gốc và tiền lợi nhuận cho anh V. Để anh V tin tưởng, Q đã dùng điện thoại di động lắp sim “rác” (không xác định được số sim) để tự tạo tài khoản tên “Kim Oanh” trên ứng dụng Zalo nhắn tin với tài khoản Zalo của Q có tên là “Quyên Vũ” thể hiện đã có nhiều giao dịch mua bán kittest thành công, có lãi cao rồi chụp ảnh màn hình điện thoại gửi cho anh V xem. Tin tưởng thông tin Q đưa ra nên anh V đồng ý góp vốn đầu tư với Q để kinh doanh kittest. Trong hai ngày 21/02/2022 và ngày 22/02/2022, anh V đã sử dụng tài khoản số [...] và số 10801168 của anh mở tại ngân hàng V3 chuyển khoản cho Q tổng số tiền là 21.750.000 đồng, nội dung chuyển ghi “Ho Quang V2 chuyen tien” để cùng góp vốn đầu tư với Q mua Kittest.
Đến hạn cam kết, Q không trả tiền đầu tư và tiền lợi nhuận kinh doanh cho anh V2. Anh V2 thúc giục đòi tiền nhiều lần thì Q nói dối anh V2 là “Kim Oanh” không lấy được hàng và chưa có tiền trả. Anh V2 yêu cầu được làm việc với “Kim Oanh” để đòi lại tiền nhưng Q đưa ra nhiều lý do trì hoãn và đề nghị anh V2 cho “Kim Oanh” được trả chậm. Do tin tưởng nên anh V2 đồng ý.
Đến tháng 6/2022, Q tiếp tục đề nghị anh V2 cùng tham gia đầu tư kinh doanh bánh trung thu có lãi cao, để anh V2 tin tưởng, Q tự mua vỏ hộp bánh, túi bánh về gia công, đồng thời sử dụng thủ đoạn tự lập các tài khoản zalo của “Cơ sở sản xuất bánh” rồi tự soạn thảo tin nhắn trao đổi về việc mua bán bánh trung thu và các đơn hàng đặt bánh sau đó chụp ảnh màn hình điện thoại gửi cho anh V2 xem. Q bảo anh V2 là bán bánh trung thu cho người có tên là “Hoàng Việt T3” đồng thời lập nhóm chat trên Zalo gồm có Q, anh V2 và “Hoàng Việt T3” để trao đổi việc mua bán, giao dịch. Tài khoản zalo tên “Hoàng Việt T3” do Q sử dụng sim rác để tự tạo dựng lên. Tin tưởng Q có các đơn hàng thật nên từ ngày 04/6/2022 đến ngày 10/8/2022, anh V2 đã sử dụng tài khoản của mình số [...] mở tại ngân hàng V3 chuyển cho Q tổng số tiền là 24.000.000 đồng, cụ thể: Lần 01 vào ngày 04/6/2022 số tiền 8.000.000 đồng; Lần 02 vào ngày 06/6/2022 số tiền 5.000.000 đồng; Lần 03 vào ngày 10/8/2022 số tiền 11.000.000 đồng. Đến hạn cam kết, Q không trả tiền đầu tư và lợi nhuận cho anh V2. Q nói lý do là Q đã giao hàng nhưng do “Hoàng Việt T3” khất hẹn trả nên chưa lấy lại được tiền. Anh V2 đòi tiền Q nhiều lần nhưng Q khất lần không trả. Số tiền Q nhận của anh V2 đã sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân hết.
Cùng thời gian này, vào tháng 7/2022, Q giới thiệu với anh V2 về hoạt động kinh doanh mua bán nụ trầm hương nhập trực tiếp từ xưởng sản xuất tại Tỉnh Thừa Thiên Huế với giá rẻ sau đó bán lại cho khách hàng có sẵn của Q thu về lợi nhuận cao. Q đề nghị anh V2 đầu tư và hứa hẹn lợi nhuận thu được sẽ chia đôi. Để anh V2 tin tưởng, Q tiếp tục sử dụng thủ đoạn gửi cho anh V2 xem các tin nhắn Zalo giả do Q tự lập ra với các khách hàng có nội dung giao dịch mua, bán số lượng lớn nụ trầm hương. Tin tưởng Q nên anh V2 đã đồng ý góp vốn đầu tư cùng Q kinh doanh nụ trầm hương. Từ ngày 06/7/2022 đến ngày 22/7/2022, anh V2 sử dụng tài khoản của mình số [...] và số 10801168 mở tại ngân hàng V3 chuyển cho Q tổng số tiền 67.700.000 đồng, cụ thể: Lần 01 vào ngày 06/7/2022 số tiền 22.000.000 đồng; Lần 02 vào ngày 07/7/2022 số tiền 14.000.000 đồng; Lần 03 vào ngày 08/7/2022 số tiền 3.000.000 đồng; Lần 04 vào ngày 12/7/2022 số tiền 15,000.000 đồng; Lần 05 vào ngày 14/7/2022 số tiền 10.000.000 đồng; Lần 06 vào ngày 22/7/2022 số tiền 3.700.000 đồng. Đến hạn cam kết, Q cũng không trả tiền đầu tư và lợi nhuận cho anh V2. Q nói dối anh V2 là đã chuyển tiền cho nhà cung cấp nụ trầm hương nhưng chưa chuyển được hàng ra... Anh V2 yêu cầu Q đòi tiền về nếu không nhận được hàng, nhưng Q tiếp tục nại ra lý do là nhà cung cấp đồng ý trả lại tiền nhưng xin trả chậm, chưa trả được tiền và nhiều lý do khác để trì hoãn việc trả tiền cho anh V2. Số tiền Q nhận của anh V2 đã sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân hết.
Ngoài ra, vào tháng 12/2022, do biết anh V2 có nhu cầu đổi tiền lẻ dịp Tết nguyên đán nên Q giới thiệu có em gái ruột là Nguyễn Thanh M (sinh năm 1982; Trú tại: Số C A, Phường Y, Quận T, Hà Nội) có thể đổi tiền mới không mất phí. Do tin tưởng Q nói là thật nên anh V2 đã sử dụng tài khoản của anh số [...] mở tại ngân hàng V3 chuyển 203.400.000 đồng vào tài khoản của Q để nhờ Q đổi giúp tiền mới. cụ thể: Lần 01 vào ngày 27/12/2022 số tiền 46.900.000 đồng; Lần 02 vào ngày 28/12/2022 số tiền 6.500.000 đồng; Lần 03 vào ngày 29/12/2022 số tiền 150.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của anh V2, Q không đổi tiền mới như hứa hẹn mà sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Anh V2 hỏi Q đổi đuợc tiền mới chưa thì Q đưa ra nhiều lý do chưa đổi được tiền. Do vậy, anh V2 đòi lại tiền, Q trả lời là không lấy lại được vì M cũng bị lừa mất hết tiền rồi. Đến đầu năm 2023, anh V2 gặp Q đòi tiền thì được Q thông tin là Q đã thuê người đi đòi nợ nhiều lần và sẽ đòi được tiền với điều kiện anh V2 phải góp tiền để cùng trả phí đòi nợ. Sau đó, Q gửi cho anh V2 xem các tin nhắn Zalo do Q tự lập giả có nội dung trao đổi với các đối tượng đòi nợ thuê có tên là “T4”, “T5”, “T3” thể hiện việc đã đòi được tiền về nhưng hiện chưa chuyển trả lại được với nhiều lý do như gia đình những người này có người thân mất ở Hà Giang phải về chịu tang và đang cầm tiền mặt, khi nào xuống Hà Nội sẽ chuyển trả Mỗi lần như vậy Q yêu cầu anh V2 chuyển thêm tiền để các đối tượng trên nhờ người mang tiền trả ở nhiều địa điểm như tỉnh Hải Phòng; Hải Dương...Do tin tưởng Q nên anh V2 đồng ý và sử dụng tài khoản của mình số [...] mở tại Ngân hàng V3 chuyển 06 lần với tổng số tiền 51.600.000 đồng cho Q. Sau đó, anh V2 đã nhiều lần đi cùng Q tới những nơi hẹn nhận tiền nhưng không có kết quả. Số tiền nhận được, Q sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân hết.
Đến tháng 6/2023, Q biết anh V2 có nhu cầu muốn chuyển tuyến bệnh viện để điều trị bệnh cho mẹ đẻ anh V2 nên Q nói với anh V2 là Q có bạn (không nói tên là gì) hiện đang làm Bảo hiểm xã hội có khả năng chuyển tuyến Bệnh viện và bảo anh V2 chuyển số tiền 5.000.000 đồng để Q giúp. Tin Q nên anh V2 đã sử dụng tài khoản số [...] của anh V2 mở tại Ngân hàng V3 chuyển cho Q số tiền là 3.500.000 đồng trong thời gian từ ngày 02/6/2023 dến ngày 05/6/2023. Sau khi nhận tiền của anh V2 Q không thực hiện như đã hứa mà chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Sau đó, Q lấy lý do là anh V2 chưa chuyển đủ tiền nên đề nghị anh V2 chuyển thêm để lo việc chuyển tuyến Bệnh viện. Do nghi ngờ Q nói dối nên anh V2 không chuyển thêm tiền đồng thời đòi lại toàn bộ số tiền đã chuyển cho Q nhưng Q trốn tránh, cắt liên lạc và không trả tiền cho anh V2. Tổng số tiền Q đã chiếm đoạt của anh Hồ Quang V là 371.950.000 đồng để sử dụng cá nhân hết. Đến ngày 14/3/2024, Nguyễn Thanh Q đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận Đ đầu thú khai báo về hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 tập tài liệu tin nhắn chụp màn hình photo liên quan đến việc Q đưa thông tin gian dối mời góp vốn đầu tư (do anh V cung cấp).
* Cơ quan điều tra tiến hành sao kê tài khoản mở tại ngân hàng V3 của anh Hồ Quang V, kết quả:
Anh V đã chuyển tổng số tiền 371.950.000 đồng đến 04 tài khoản của Nguyễn Thanh Q mở tại ngân hàng T6, V3, M1, A1.
* Tại Cơ quan điều tra:
- - Anh Hồ Quang V khai như nội dung vụ án đã nêu trên và đề nghị Cơ quan pháp luật yêu cầu Q phải trả số tiền 371.950.000 đồng và xử lý Q theo quy định của pháp luật.
- - Nguyễn Thanh Q khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Việc đưa thông tin gian dối với anh V là Q có em gái ruột là Nguyễn Thanh M có khả năng đổi tiền mới không mất phí do Q tự nghĩ ra để chiếm đoạt tiền của anh V, Q không bàn bạc hay trao đổi với M về vấn đề trên.
- - Nguyễn Thanh M khai bản thân chị làm việc tại bộ phận kinh doanh của công ty M2 lọc nước đồ gia dụng Kanggaru Việt Nam. Chị M không nhận khoản tiền nào từ Q và chưa bao giờ nhận đổi tiền mới cho Q. Q không nói với chị M về việc đổi tiền. Chị M và Q không có mối quan hệ đầu tư hay góp vốn làm ăn chung. Chị M không biết và không bàn bạc với Q về việc lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh V.
Bản cáo trạng số 687/CT-VKSHN-P3 ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thanh Quyên về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- * Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố đối với bị cáo. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt vì hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn.
- * Bị hại là chị Lưu Cẩm C giữ nguyên những lời khai đã trình bày trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định của pháp luật và buộc bị cáo phải bồi thường số tiền chiếm đoạt của chị là 962.850.000 đồng. Bị hại là anh Hồ Quang V có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thanh M vắng mặt tại phiên toà.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội sau khi phân tích về nội dung vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 13 đến 14 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho những người bị hại số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể: Bồi thường cho chị Lưu Cẩm C 962.850.000 đồng, bồi thường cho anh Hồ Quang V 371.950.000 đồng.
- * Người bào chữa cho bị cáo là ông Bùi Việt A và ông Đoàn Văn T vắng mặt tại phiên toà và gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo có nội dung: Việc khởi tố, điều tra, truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc giải quyết vụ án, đã chủ động ra đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để lượng hình đối với bị cáo.
- * Người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Quang T1 nhất trí với tội danh Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã ra đầu thú, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại là chị Lưu Cẩm C, anh Hồ Quang V và các tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng của bị hại cũng như những tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Nguyễn Thanh Q không có nghề nghiệp ổn định, với mục đích chiếm đoạt tiền chi tiêu cá nhân. Q đã đưa ra thông tin gian dối đối với chị Lưu Cẩm C và anh Hồ Quang V là Q đang kinh doanh kittest covid, kinh doanh bánh trung thu, kinh doanh nụ trầm hương có lợi nhuận cao để chị C và anh V góp vốn kinh doanh cùng. Q còn giới thiệu có khả năng chuyển tuyến bệnh viện và đổi tiền mới. Để tạo sự tin tưởng cho chị C, anh V chuyển tiền cho mình, Q đã tạo tài khoản Zalo bằng sim “rác” sau đó giả mạo là khách hàng tự nhắn tin qua lại với zalo của Q có tên “Quyên vũ” để đặt mua hàng rồi chụp màn hình gửi cho chị C, anh V xem. Do tin tưởng Q nói là thật nên chị C, anh V đã nhiều chuyển tổng số tiền 1.334.800.000 đồng vào các tài khoản theo yêu cầu của Q. Sau khi nhận được tiền của chị C và anh V, Q không thực hiện như cam kết mà chiếm đoạt số tiền trên chi tiêu cho mục đích cá nhân đến nay không có khả năng trả lại các bị hại.
Xét hành vi của bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của chị Lưu Cẩm C 962.850.000 đồng, chiếm đoạt của anh Hồ Quang V 371.950.000 đồng, tổng cộng là 1.334.800.000 đồng đã phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại cáo trạng là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại làm mất an ninh trật tự, gây tâm lý hoang mang trong xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo tính phòng ngừa, răn đe đối với xã hội.
[3] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội và bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung đối với bị cáo:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo.
[6] Về dân sự: Chị Lưu Cẩm C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 962.850.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của chị, anh Hồ Quang V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 371.950.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của anh. Xét yêu cầu này của các bị hại là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận yêu cầu, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị C và anh V những khoản tiền nêu trên.
[7] Về những vấn đề khác trong vụ án: Đối với chị Nguyễn Thị Thanh M là em gái của Nguyễn Thanh Q, quá trình điều tra xác định: Q không nói gì với chị M về việc đổi tiền mới, chị M cũng không nhận đổi tiền mới cho Q, không biết và không bàn bạc gì với Q về việc lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông V. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị M nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự về bồi thường theo các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về dân sự:
- Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 52.044.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại là chị Lưu Cẩm C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Hồ Quang V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/03/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q bồi thường cho chị Lưu Cẩm C 962.850.000 đồng, bồi thường cho anh Hồ Quang V 371.950.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
- - Công an TP Hà Nội;
- - Trại tạm giam số 01 - Công an TP Hà Nội;
- - Cơ quan Thi hành án hình sự TP Hà Nội;
- - Chi cục Thi hành án dân sự TP Hà Nội;
- - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Chương |
Bản án số 81/2025/HS - ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 81/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong các ngày 23/11/2023, 19/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an Quận Đ, Thành phố Hà Nội nhận được đơn trình báo của chị Lưu Cẩm C (Sinh năm 1980; Trú tại: Số A Vĩnh Phúc, Phường V, Quận B, Hà Nội) và anh Hồ Quang V (Sinh năm 1978; Trú tại: Căn hộ D, tòa B, chung cư I, KĐT N, Phường Đ, Quận B, Hà Nội) tố giác Nguyễn Thanh Q (sinh năm 1980; Trú tại: Số D ngõ G T, Phường K, Quận Đ, Hà Nội) có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc kêu gọi góp vốn đầu tư kinh doanh.
