Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/HS-ST

Ngày 17-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1.Bà Trần Thị Thuỷ;
  2. 2.Ông Bùi Văn Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 12 năm 2025, đối với:

Bị cáo Nguyễn Xuân R sinh ngày 11/9/1985 tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn H, xã Q, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số [...], do cục cảnh sát cấp ngày 10/8/2016; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà: Phạm Thị N, sinh năm 1964; vợ: Bùi Thị L, sinh năm 1987; con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2025 đến ngày 25/8/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh H.

Người chứng kiến:

  • - Ông Nguyễn Huy Ú, sinh năm 1960
  • - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1962

Đều cư trú tại: Thôn H, xã Q, tỉnh Hưng Yên.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt ông Ú và ông T1 )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21 giờ 15 phút ngày 18/8/2025, tại khu vực đường T, xã Q, tỉnh Hưng Yên, tổ phòng chống tội phạm Công an xã Q phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Xuân R có hành vi cất giấu tại túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc 01 gói giấy tráng kim màu bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1528 gam. Rạng khai nhận gói ma túy trên Rạng mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực nghĩa trang thôn T, xã Q, tỉnh Hưng Yên với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ và niêm phong 01 gói ma túy trên trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Huy Ú và ông Nguyễn Văn T1.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân R, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Kết luận giám định số 924/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng 0,1528 gam (Không phảy một nghìn không trăm hai mươi tám gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận: Bản thân nghiện ma tuý từ đầu năm 2025. Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 18/8/2025, bị cáo đi bộ đến khu vực nghĩa trang T2, xã Q hỏi mua ma tuý về để sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và hỏi mua của người không quen biết 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Bị cáo cầm gói ma tuý giấu vào túi áo ngực bên trái rồi đi tìm chỗ vắng để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng khi về đến đường thuộc khu vực thôn H, xã Q, tỉnh Hưng Yên thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSKV ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên truy tố Nguyễn Xuân R về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Xuân R về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025: xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo nói lời sau cùng: nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, rất ân hận về hành vi mà mình đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận do nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của người chứng kiến cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 21 giờ 15 phút ngày 18/8/2025, tại khu vực đường T, xã Q, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Xuân R có hành vi tàng trữ trái phép tại túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc 01 gói 0,1528 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm hai mươi tám gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điều 249 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hưng Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Tệ nạn ma túy đang là mối quan tâm, nhức nhối của toàn xã hội, ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe, làm suy thoái nòi giống và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật với mức án tương xứng hành vi bị cáo đã gây ra, việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để chấp hành hình phạt là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo riêng và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình sinh sống chưa vi phạm pháp luật gì. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định phân tích nêu trên nên về hình phạt áp dụng đối với bị cáo như mức Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định. Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Nguyễn Xuân R khai ngày 15/8/2025 bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine tại nhà ở thôn H, xã Q, tỉnh Hưng Yên bằng hình thức chích ma túy vào cơ thể. Kết luận giám định số 661/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, C1 và 6-MAM là các sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Xuân R. Kết quả điều tra xác định bị cáo không trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và không trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; không trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy 2021. Do đó, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Xuân R không phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Ngày 26/10/2025, Công an xã Q quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo đối với Nguyễn Xuân R là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025: xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân R 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/8/2025.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,0954 gam (Không phẩy không nghìn chín trăm năm mươi tư gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Xuân R trong phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định ghi số 924/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H.

    (Vật chứng trên đang được quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hưng Yên, theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản giữa Công an và Phòng Thi hành án dân sự ngày 19/11/2025).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Xuân R phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Bị cáo Nguyễn Xuân R có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Khu vực 8 – Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan Điều tra CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Hưng Yên;
  • - UBND xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 81/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cáo Nguyễn Xuân R phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger