Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/HS-ST

Ngày: 08-12-2025

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xoa

Ông Đặng Công Tâm

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Minh Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Sĩ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Tăng Minh Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 12 năm 1985 tại Đà Nẵng; Nơi thường trú và chỗ ở: D N, phường H, TP Đà Nẵng. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Tăng Tấn N, sinh năm 1957 và bà Trần Thị Thùy C, sinh năm 1958. Có vợ là Hoàng Thị Hoàng O, sinh năm 1984 và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Bảo  – Luật sư Công ty L1 – Đoàn Luật sư T3. Có mặt.

- Bị hại: Đền T4; Địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố Đà Nẵng – Trưởng ban quản lý: ông Trần Văn H, sinh năm: 1971. Nơi thường trú: D Đ, phường T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969. Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: K L, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. Địa chỉ: E Đ, T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969. Địa chỉ: E Đ, T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây, Tăng Minh Q đã nhiều lần đến đền T4 Thánh Điện tại tổ B phường H, thành phố Đà Nẵng, thắp hương và nhìn thấy tài sản có giá trị nên nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 24/5/2025, Q điều khiển xe mô tô hiệu AirBlade, biển số 43F1-439.26 đi đến Đền T4. Lợi dụng lúc bà Nguyễn Thị D (là thành viên Ban Q1) đang ở dưới bếp, Q lén lút trộm cắp một vòng kiềng bằng vàng trên cổ tượng Cô Năm Ngoại Cảnh đang thờ trong chánh điện. Q điều khiển xe mô tô đem tài sản trộm cắp được đến tiệm V - tại số E Đ, P. T, thành phố Đà Nẵng, do bà Nguyễn Thị M làm chủ, Q bán cho nhân viên là bà Nguyễn Thị L, bà L nghĩ là của Q nên đã mua với số tiền 18.465.000 đồng. Q dùng số tiền này mua lại 01 nhẫn vàng với số tiền 8.100.000 đồng. Còn lại 10.365.000 đồng, bà L dùng dịch vụ chuyển tiền nhanh để chuyển vào tài khoản số [...], Ngân hàng S, tên Tăng Minh Q. Chiếc vòng kiềng đã bị gãy nên tiệm vàng đã nấu chảy chung với vàng khác và đã làm sản phẩm khác, không xác định được vàng nào do Q bán.

Đến khoảng 16 giờ ngày 01/6/2025, Q đến Đền Đ1 thắp hương và đứng quan sát thì bị bà D và ông Trần Văn H (là T Ban quản lý của Đ) nghi ngờ nên trình báo Công an phường H đến mời Q về trụ sở làm việc. Q đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên.

Vật chứng thu giữ:

- Tăng Minh Q:

  • + 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, phía trên có đính 01 viên đá to màu vàng, hai bên có đính 12 viên đá nhỏ màu trắng.
  • + 5.300.000 đồng (theo Q khai thì đây là tiền đã bán vàng còn lại).
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, số khung: 6325H7255088, số máy: JF63E2306380, biển số 43F 1-439.26.
  • + 01 bộ quần áo, màu rằn ri.

- Mạc Tường T1 (sinh năm: 1960; trú: Thôn L, P. H, thành phố Đà Nẵng, là thư ký Tam Giang T): 01 đoạn video, dài 01 phút 15 giây, bắt đầu từ 17 giờ 58 phút 11 giây ngày 24/5/2025. Ghi lại hình ảnh Tăng Minh Q trộm tài sản tại Đền.

- Thông tin chủ tài khoản và số phụ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn đối với tài khoản số [...], ngân hàng TMCP S1, chủ tài khoản Tăng Minh Q. Thể hiện lúc 20 giờ 59 phút 32 giây, tài khoản này có nhận số tiền 10.365.000 đồng từ tài khoản của Nguyễn Thị L.

Theo Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 19/8/2025 của Hội đồng ĐGTS trong TTHS, UBND thành phố Đ, kết luận: 01 vòng kiềng vàng như nêu trên có trị giá 18.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị can Tăng Minh Q đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Lời khai của bị can Q phù hợp với lời khai của người đại diện cho bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xử lý vật chứng: Chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Đà Nẵng bảo quản, chờ xử lý:

  • + 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, phía trên có đính 01 viên đá to màu vàng, hai bên có đính 12 viên đá nhỏ màu trắng.
  • + 5.300.000 đồng (theo Q khai thì đây là tiền đã bán vàng còn lại).
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, số khung: 6325HZ255088, số máy: JF63E2306380, biển số 43F1-439.26.
  • + 01 bộ quần áo, màu rằn ri.

Về dân sự: Bị cáo Tăng Minh Q đã tự nguyện mua lại một vòng kiềng vàng có giá trị 32.400.000 Đồng bồi thường cho đền T4. Ông Trần Văn H – đại diện đền không yêu cầu bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 20/CT- VKS ngày 10 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng đã truy tố Tăng Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tăng Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tăng Minh Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Bị cáo Tăng Minh Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo – Luật sư Lê Bảo Â: Xin Hội đồng xét xử cân nhắc nguyên nhân điều kiện bị cáo phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; gia đình bị cáo có ông nội là Tăng B, bà nội là Nguyễn Thị C1 và cha là Tăng Tấn N có công cách mạng, có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Tăng Minh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 17 giờ 45 phút ngày 24 tháng 5 năm 2025, tại đền T4, địa chỉ tổ B, phường H, thành phố Đà Nẵng, Tăng Minh Q đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 vòng kiềng vàng trên tượng Cô Năm Ngoại Cảnh, sau đó bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Qua định giá, tài sản trộm cắp có giá trị 18.000.000 Đồng.

Do đó hành vi của Tăng Minh Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 20/CT- VKS ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo có tính chất ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Vậy, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có ông nội là Tăng B, bà nội là Nguyễn Thị C1 và cha là Tăng Tấn N có công cách mạng, có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án cũng đủ sức răn đe, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, phía trên có đính 01 viên đá to màu vàng, hai bên có đính 12 viên đá nhỏ màu trắng; số tiền 5.300.000 đồng; thu giữ của bị cáo, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên cần trả lại cho bị cáo.
  • + Đối với 01 bộ quần áo, màu rằn ri thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, số khung: 6325HZ255088, số máy: JF63E2306380, biển số 43F1-439.26 bị cáo sử dụng xe để sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Tăng Minh Q đã tự nguyện mua lại một vòng kiềng vàng có giá trị 32.400.000 đồng bồi thường cho đền T4. Ông Trần Văn H – đại diện đền không yêu cầu bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

[6] Đối với bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L có hành vi mua vòng kiềng vàng do bị cáo bán nhưng không biết là tài sản trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Tăng Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Tăng Minh Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/12/2025. Giao bị cáo Tăng Minh Q cho Ủy ban nhân dân phường H, Tp Đà Năng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. T2:
    • + Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, phía trên có đính 01 viên đá to màu vàng, hai bên có đính 12 viên đá nhỏ màu trắng (được gửi tại Kho bạc Nhà nước Khu vực X); 5.300.000 đồng (được chuyển vào tài khoản số 3949.0.1054137.00000 tại Kho bạc Nhà nước Khu vực X); 01 bộ quần áo, màu rằn ri.
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, số khung: 6325HZ255088, số máy: JF63E2306380, biển số 43F1-439.26, loại xe 02 bánh, màu vàng.
    • (Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, Tp . theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, Tp .).
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Tăng Minh Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND khu vực 1 – Đà Nẵng;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đà Nẵng;
  • - Viện KSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an TP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an TP Đà Nẵng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 81/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger