TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 81/2025/HS-ST
Ngày 03 tháng 4 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Nguyên Châu.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Xuân Vinh
- - Ông Nguyễn Văn Xuân
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/HSST-QĐ ngày 20/3/2025 đối với bị cáo:
Võ Minh Đ, sinh ngày 26/4/1991, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số A đường P, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Cán bộ tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ thuộc Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên (đã bị khai trừ từ ngày 23/9/2024 theo Quyết định số 213-QĐ/UBKTTU của Ủy ban kiểm tra - Thành ủy N1); trình độ học vấn: Đại học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh T, sinh năm 1965 và bà Trương Thị Xuân L, sinh năm 1963;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024; bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N - Thuộc trại tạm giam Công an tỉnh K;
Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1956; Nơi cư trú: Số H V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
- Ông Đinh Quang T1, sinh năm: 1960; Nơi cư trú: Lô A đường số F khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Lô A đường số F khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
- Bà Trần Thị L2, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Số F đường P, tổ dân phố Đ, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
- Bà Trương Thị Xuân L, sinh năm: 1963; Nơi cư trú: Số A đường P, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 05/2023, bà Nguyễn Thị S ký hợp đồng dịch vụ với ông Đinh Quang T1 với nội dung: ông T1 giúp bà S làm các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ địa chính số 10 (356 599 – 6 – (2)) có địa chỉ tại số H V, phường P, thành phố N; chi phí dịch vụ là 50.000.000 đồng. Trong quá trình làm, ông T1 yêu cầu bà S cung cấp 02 (hai) Giấy chứng tử của chủ cũ thửa đất là ông Dương Đức N và bà Nguyễn Thị T2 (là bố, mẹ chồng của bà S) để bổ sung hồ sơ. Do ông Dương Đức N và bà Nguyễn Thị T2 không đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường P nên bà S không xin cấp giấy Trích lục khai tử được, bà S nói lại và nhờ ông T1 giúp đỡ.
Sau đó ông T1 kể lại sự việc cho vợ là bà Trần Thị L3 để tìm cách xin cấp giấy khai tử. Đầu tháng 08/2023, bà L3 đến Ủy ban nhân dân phường P gặp Võ Minh Đ là cán bộ tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ tại Ủy ban nhân dân phường P để hỏi các thủ tục xin khai tử quá hạn cho ông Dương Đức N và bà Nguyễn Thị T2. Đ hướng dẫn cho bà L3 chuẩn bị các giấy tờ theo quy định gồm: hình ảnh bia mộ, giấy xác nhận do Ban Q cấp, giấy tờ xác nhận nơi thường trú trước khi chết do Công an phường cấp nhưng bà S chỉ cung cấp được hình ảnh và thông tin bia mộ của ông N, bà T2. Qua tìm hiểu, bà L3 biết được Võ Minh Đ là con của đồng nghiệp cùng công ty trước đây với mình là bà Trương Thị Xuân L nên đã nhờ bà L tác động để Đ hỗ trợ làm giúp giấy Trích lục khai tử cho ông Dương Đức N và bà Nguyễn Thị T2. Sau khi gửi hình ảnh thông tin bia mộ của ông N, bà T2 qua cho Đ, bà L3 liên tục gọi điện thoại đề nghị Đ giúp đỡ và được Đ đồng ý, lúc này hai bên không thoả thuận đến lợi ích sau khi làm xong. Đ đến Công an phường P kiểm tra thông tin cư trú trước khi chết của ông N, bà T2 nhưng không có hồ sơ lưu trữ thông tin. Vì đã nhận lời giúp và liên tục bị bà L3 gọi điện hối thúc, khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/8/2023, Đ sử dụng máy vi tính để bàn tại nơi làm việc thuộc Ủy ban nhân dân phường P soạn thông tin vào mẫu trích lục khai tử có sẵn trong máy vi tính trên phần mềm Word 2010 rồi in 04 bản trích lục khai tử của ông N và 04 bản trích lục khai tử của bà T2. Cụ thể: trích lục khai tử (bản sao) đề số 430/TLKT-BS đề ngày 26/8/2023, khai tử ông Dương Đức N, sinh năm: 1922, chết ngày 17/3/1976 tại địa chỉ H V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường P, ngày 20/8/2023 và trích lục khai tử (bản sao) đề số 431/TLKT-BS đề ngày 26/8/2023, khai tử bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1919, chết ngày 22/5/2004 tại địa chỉ H V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường P, ngày 20/8/2023. Do bị lỗi thông tin nên Đ đã xé bỏ 01 bản trích lục khai tử của bà T2, còn lại tổng cộng 07 bản.
Trưa ngày 30/8/2023, Đ cầm theo 07 bản trích lục khai tử trên về nhà mình tại địa chỉ A đường P, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa rồi tự mình dùng bút giả mạo chữ ký của bà Trần Thị T3 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P dưới mục “Người ký trích lục”. Chiều cùng ngày, Đ mang 07 bản trích lục khai tử này đến Ủy ban nhân dân phường P, lợi dụng sơ hở của cán bộ quản lý con dấu để tự ý đóng hình dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường P vào 07 bản trích lục khai tử. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, Đ hẹn gặp vợ chồng ông Đinh Quang T1 và bà Trần Thị L3 tại quán C, địa chỉ D Bà T, phường T, thành phố N và đưa 07 giấy trích lục khai tử nêu trên cho ông T1. Lúc này, Đ không nói đây là trích lục giả do mình tự làm. Sau khi kiểm tra thông tin đúng theo yêu cầu nên ông T1 đã gửi cho Đ một bì thư đựng số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi sự việc bị Ủy ban nhân dân phường P phát hiện, ngày 06/01/2024 Đ đã liên hệ trả lại cho bà L3 số tiền này.
Tại Kết luận giám định số 219/2024/KL-KTHS ngày 16/4/2024 và số 380/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K kết luận:
- Chữ ký dưới mục “Người ký trích lục” trên tài liệu ký hiệu A1, A2, A3, A4, A6, A7 so với chữ ký mang tên Trần Thị T3 trên các tài liệu ký hiệu từ M2 đến M7 không phải do cùng một người ký ra.
- Chữ ký dưới mục “Người ký trích lục” trên tài liệu ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7 so với 09 chữ ký được ký trong các ô kẻ sẵn trên tài liệu ký hiệu M8 là do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn, màu đỏ, có nội dung: “U.B.N.D PHƯỜNG PHƯỜNG SÀI T.P NHA TRANG T.KHÁNH HOÀ” trên các tài liệu ký hiệu A1, A2, A3, A4, A6, A7 so với hình dấu tròn, màu đỏ, có cùng nội dung trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M7 là do cùng một con dấy đóng ra.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSNT ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố Võ Minh Đ về tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 359 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Trình bày luận tội, kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 359, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Minh Đ từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”; Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Võ Minh Đ thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Tại lời nói sau cùng, bị cáo gửi lời xin lỗi đến lãnh đạo và Ủy ban nhân dân phường P, đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Xuân L không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S, ông Đinh Quang T1, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị L2 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Những người vắng mặt đều đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Minh Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà. Như vậy đủ căn cứ để kết luận:
Từ ngày 01/01/2020, Võ Minh Đ được phân công đảm nhận chức danh người hoạt động không chuyên trách: tiếp nhận trả kết quả kiêm người làm công tác ở Nhà văn hoá – công tác ở Đài truyền thanh tại Ủy ban nhân dân phường P. Ngày 30/8/2023, sau khi được bà Trần Thị L3 nhờ làm giúp giấy trích lục khai tử của ông Dương Đức N và bà Nguyễn Thị T2, Võ Minh Đ đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao của mình để tiến hành nhập thông tin của ông N, bà T2 vào biểu mẫu trích lục khai tử trên máy tính để bàn tại nơi làm việc. Sau đó, Đ tự mình ký giả chữ ký của bà Trần Thị T3 – lúc này đang là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P mục Người ký trích lục và lợi dụng sơ hở của quản lý con dấu để dùng dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường P đóng lên 07 tờ trích lục khai tử nói trên. Hành vi của Võ Minh Đ đã cấu thành tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại Điều 359 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ đã làm, cấp giấy trích lục khai tử giả với tổng số lượng là 07 tờ. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 359 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Võ Minh Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; quá trình công tác bị cáo có thành tích xuất sắc, nhiều lần được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P và Ban chấp hành Công đoàn Ủy ban nhân dân phường P tặng Giấy khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy các giấy tờ bị cáo làm giả đã bị thu hồi, gây thiệt hại không lớn; bị cáo thực hiện hành vi không vì mục đích vụ lợi, bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Đối với loại tội phạm này, ngoài hình phạt chính còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định và có thể bị phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, cấm bị cáo đảm nhiệm công việc liên quan đến tiếp nhận trả kết quả trong thời hạn 01 (một) năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về các hành vi khác:
Hành vi của Đinh Quang T1 và Trần Thị L3 đưa cho bị cáo Võ Minh Đ số tiền 15.000.000 đồng để bồi dưỡng cảm ơn, các đối tượng không thoả thuận thống nhất về lợi ích vật chất với nhau từ trước nên chưa đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
Các đối tượng Đinh Quang T1, Trần Thị L3, Nguyễn Thị S không biết các giấy trích lục khai tử mà bị cáo Võ Minh Đ đưa là giả mạo nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
[6] Về vật chứng vụ án:
- 04 trích lục khai tử (bản sao) đề số 430/TLKT-BS đề ngày 26/8/2023, khai tử ông Dương Đức N, sinh năm: 1922, chết ngày 17/3/1976 tại địa chỉ H V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường P, ngày 20/8/2023;
- 03 trích lục khai tử (bản sao) đề số 431/TLKT-BS đề ngày 26/8/2023, khai tử bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1919, chết ngày 22/5/2004 tại địa chỉ H V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân phường P, ngày 20/8/2023;
Các tài liệu này đã lưu trong hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu hồ sơ theo quy định.
[7] Về án phí: Võ Minh Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 3, khoản 5 Điều 359; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Minh Đ 05 (năm) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/8/2024.
Cấm bị cáo đảm nhiệm công việc liên quan đến tiếp nhận trả kết quả trong thời hạn 01 (một) năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo Võ Minh Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Nguyên Châu |
Bản án số 81/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về giả mạo trong công tác
- Số bản án: 81/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Võ Minh Đ 05 (năm) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”
