Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/HS-PT

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng và ông Cao Minh Lễ.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Trung T do có kháng cáo của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang:

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Trung T, sinh ngày 10/4/1990 tại huyện P, tỉnh Bình Định; nơi đăng ký thường trú: Thông Chánh Đạo, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: Số A, Nguyễn Đức T1, Khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh P và bà Nguyễn Thị Điền V; vợ là Trần Thị Kim T2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung T: Bà Hồ Hoàng P1, Luật sư của Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A, đường T, tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

(Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 14/5/2024, Đoàn kiểm tra Đội Quản lý thị trường số D1 phối hợp với Tổ Liên ngành chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả tỉnh An Giang, tuần tra đến khu vực khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, phát hiện xe ô tô tải biển số 62H-038.64 do tài xế Lê Văn D điều khiển, có biểu hiện nghi vấn, lực lượng dừng phương tiện để kiểm tra. Phát hiện trên xe tải có 5.000kg phân bón KNO3 13-0-46 multi-K, loại 25kg/bao do Israel sản xuất, (viết tắt là phân bón Israel) trên nhãn chưa thể hiện nhà sản xuất và hạn sử dụng của Công ty trách nhiệm hữu hạn X do Nguyễn Trung T là người đại diện theo pháp luật nên lực lượng lập biên bản tạm giữ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C xác minh, xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, xác định: Khoảng tháng 01 năm 2018, Nguyễn Trung T thành lập công ty X, địa chỉ: Số A, Nguyễn Đức T1, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vốn điều lệ là 1.000.000.000 đồng, lĩnh vực kinh doanh là phân bón, mã số thuế là 3702631509. Công ty X không có cơ cấu tổ chức, điều lệ hoạt động, T là người trực tiếp thực hiện hoạt động mua bán phân bón và hưởng lợi nhuận, không có chia lợi nhuận cho ai khác.

Ngày 12/3/2024, T ký hợp đồng mua bán số 1203/2024/HĐNT-ĐTP-NN với Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 để mua phân bón bán lại kiềm lời. Đến đầu tháng 5/2024, T lên mạng tìm mua 200 cái bao bì, nhãn mác phân bón Israel, giá 2.250 đồng/cái, tổng số tiền 450.000 đồng. Trực mua 5.100kg phân bón Money Fish NK 13-46, loại 25kg/bao do Trung Quốc sản xuất, giá 24.000 đồng/kg, tổng số tiền 122.400.000 đồng.

Ngày 13/5/2024, T đem theo 200 cái bao nhãn mác phân bón I và máy may miệng bao bằng tay đến kho hàng của Công ty T6 để nhận 5.100kg phân bón Trung Quốc (loại 25kg/bao) và thuê xe để vận chuyển đến chành xe của Nguyễn Hữu H. Khi đến bãi đất trống trong khu công nghiệp, T kêu tài xế (không rõ lai lịch) và gọi điện thoại cho bạn Nguyễn Tri T3 đến hỗ trợ tháo miệng bao thay đổi bao bì, nhãn mác của 200 bao phân bón Trung Quốc thành 200 bao phân bón Israel, tổng khối lượng 5.000kg (riêng 100kg Trực không thay đổi bao bì, nhãn mác thì T đem về nhà). Sau khi thay đổi bao bì xong vận chuyển đến giao tại chành xe của H. Sau đó, H kêu Lê Văn D (tài xế của H) điều khiển xe ô tô biển số 62H-038.64 đến nhận và chở 200 bao phân bón đã bị thay đổi nhãn mác về thị xã T, tỉnh An Giang giao cho Lưu Tư T4, địa chỉ: Tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang với giá thỏa thuận là 27.000 đồng/kg. Đến khoảng 08 giờ ngày 14/5/2024, D điều khiển xe đến khu vực khóm H, phường V, thành phố C thì bị phát hiện và tạm giữ tang vật.

Vật chứng thu giữ: 200 bao phân bón Money Fish NK 13-46, loại 25kg/bao do Trung Quốc sản xuất (trên bao bì, nhãn mác là phân bón KNO3 13-0-46 multi-K, loại 25kg/bao do Israel sản xuất) và nhiều đồ vật có liên quan.

Kết luận định giá tài sản số 2495/KL-ĐG ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 5.000kg phân bón Money Fish NK 13-46, loại 25kg/bao do Trung Quốc sản xuất (trên bao bì, nhãn mác là phân bón KNO3 13-0-46 multi-K, loại 25kg/bao do Israel sản xuất), tổng trị giá 120.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 511/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Nhãn bao bì hàng hóa trên tài liệu cần giám định so với nhãn bao bì hàng hóa trên tài liệu mẫu so sánh là không cùng một bản in.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 11/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Buôn bán hàng giả là phân bón”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 195; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị báo bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 11/3/2025 bị cáo Nguyễn Trung T có đơn kháng cáo xin chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trung T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và chuyển hình phạt chính là phạt tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm: Bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt; các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung T có quan điểm: Thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt tiền.

Bị cáo Nguyễn Trung T nhất trí với bản luận cứ bào chữa, đồng thời không có bào chữa hoặc tranh luận thêm gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung T làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trung T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng vật chứng đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Nguyễn Trung T là Giám đốc Công ty TNHH X đã mua 5.100kg phân bón do Trung Quốc sản xuất, đồng thời đặt mua 200 bao bì, nhãn mác giả phân bón Israel. Ngày 13/5/2024, bị cáo thuê người thay bao bì, nhãn mác 200 bao phân bón Trung Quốc (5.000kg) thành phân bón Israel, rồi thuê xe vận chuyển về giao cho Lưu Tư T4 ở T, An Giang để tiêu thụ. Ngày 14/5/2024, xe tải do Lê Văn D điều khiển bị lực lượng chức năng kiểm tra tại thành phố C, tỉnh An Giang phát hiện và tạm giữ tang vật.

Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Buôn bán hàng giả là phân bón” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 195 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin được chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt tiền của bị cáo Nguyễn Trung T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phân bón, vật tư nông nghiệp thiết yếu ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và an toàn thực phẩm. Việc làm giả nhãn mác để tiêu thụ hàng hóa không rõ nguồn gốc không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, làm giảm niềm tin của người tiêu dùng, gây bức xúc trong dư luận, bị quần chúng nhân dân lên án, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm trục lợi cá nhân, bất chấp hậu quả, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Bị cáo đã chủ động tìm mua bao bì giả, trực tiếp thực hiện hành vi thay đổi nhãn mác, đóng gói lại hàng hóa nhằm tạo niềm tin sai lệch cho người tiêu dùng, che giấu nguồn gốc thật sự của hàng hóa để bán với giá cao hơn. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền lợi người tiêu dùng, mà còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và gây mất niềm tin trong xã hội về chất lượng vật tư nông nghiệp. Mặc dù, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có ông nội Nguyễn T5 là Liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần xử lý nghiêm minh hành vi của bị cáo nhằm đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa và thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật trong công cuộc đấu tranh chống hàng giả, hàng kém chất lượng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận áp dụng hình phạt tiền mà buộc bị cáo chấp hành hình phạt 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Xét thấy, cần chấp nhận đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng giả là phân bón”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 195; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính kể từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự TP. Châu Đốc;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thuận Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về buôn bán hàng giả là phân bón (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 81/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng giả là phân bón (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hàng giả là phân bón
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger