|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 6 - 2025
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;
Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Hải Bằng – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số .../2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Sằm Thị D, sinh năm 1983
HKTT: Thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
- Bị đơn: Anh Bùi Thọ N, sinh năm 1979
HKTT: Thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
Hiện tại chị D và anh N sinh sống tại Australia.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Sằm Thị D trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Thọ N tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 03/3/2007 tại UBND thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc, hoà thuận. Sau đó do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Vì tính chất công việc nên chị và anh N đều sinh sống và làm việc tại Australia tuy nhiên anh chị không sống cùng nhau. Do vợ chồng sống xa nhau, không có thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị đề nghị Toà án cho chị được ly hôn với anh N.
+ Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Bùi Thọ Trung K sinh ngày 12/02/2008 và cháu Bùi Minh H sinh ngày 02/6/2013. Hiện tại hai cháu đang sinh sống cùng chị. Ly hôn chị và anh N thoả thuận giao cả hai con cho chị nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản và nợ chung: Chị và anh N không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Bùi Thọ N trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 03/3/2007 tại UBND thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đúng như chị D trình bày. Cuộc sống hôn nhân của anh chị đôi khi cũng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không chung tiếng nói, bất đồng quan điểm sống. Dù anh và chị D cùng sinh sống và làm việc tại Australia nhưng hai vợ chồng sống mỗi người ở một thành phố khác nhau. Vì tính cách không hợp và tính chất công việc bận mải nên anh và chị D dần ít liên lạc và quan tâm đến nhau. Mấy năm trở lại đây anh và chị D mỗi người tự lo liệu cuộc sống riêng của bản thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị D xin ly hôn, anh đồng ý.
+ Về con chung: Vợ chồng anh có hai con chung là cháu Bùi Thọ Trung K sinh ngày 12/02/2008 và cháu Bùi Minh H sinh ngày 02/6/2013. Ly hôn anh đồng ý giao cả hai con cho chị D nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng, nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Cháu Bùi Thọ Trung K và cháu Bùi Minh H trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn cả hai cháu có nguyện vọng được ở với mẹ D.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bị đơn – anh Bùi Thọ N có hộ khẩu thường trú tại Thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Hiện tại chị D và anh N đang sinh sống và làm việc tại Australia nên thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
[1.2] Chị D và anh N có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh N là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Cả hai anh chị đều xác nhận cuộc sống hôn nhân của anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn. Việc anh chị không sống cùng nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau đã chứng minh rằng mâu thuẫn giữa anh chị đã trở nên trầm trọng. Chị D xin ly hôn, anh N đồng ý là thể hiện cả hai không còn muốn duy trì cuộc sống hôn nhân nữa. Như vậy khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị D được ly hôn với anh N là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị D và anh N có hai con chung là cháu Bùi Thọ Trung K sinh ngày 12/02/2008 và cháu Bùi Minh H sinh ngày 02/6/2013. Anh chị thoả thuận giao cả hai con chung cho chị D nuôi dưỡng. Xét thấy, con chung đang sinh sống ổn định cùng chị D, con chung được chăm sóc, học tập và phát triển đầy đủ. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung giao cả hai con chung cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị D và anh N đều xác định anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sằm Thị D. Hội đồng xét xử thấy, đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Sằm Thị D được ly hôn với anh Bùi Thọ N.
-
Về nuôi con chung: Giao cho chị Sằm Thị D nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Bùi Thọ Trung K sinh ngày 12/02/2008 và cháu Bùi Minh H sinh ngày 02/6/2013
Anh Bùi Thọ N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Sằm Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị D nộp tại biên lai 0001014 ngày 30/5/2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Sằm Thị D và anh Bùi Thọ N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
