|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo
Ông Hà Văn Trường
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Chinh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 73/2025/TLST – DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QÐST-HPT ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thu H, sinh ngày 01/01/1975; CCCD: [...]
Nơi thường trú và địa chỉ hiện nay: Tổ D, thôn G, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt – có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1968
Nơi thường trú và địa chỉ hiện nay: Tổ D, thôn G, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/01/2025 và các lần làm việc tại Tòa, nguyên đơn - bà Hồ Thị Thu H trình bày:
Bà Hồ Thị Thu H và ông Phạm Văn H1 sau thời gian tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân, ông bà kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố V. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn G, xã L, thành phố V.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường và đã có 03 con chung.
Từ khoảng 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn gay gắt, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Ông H1 hay ghen tuông, dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi vã, đánh đập nhau. Hai bên gia đình cũng biết, nhiều lần khuyên can hai vợ chồng nhưng không được. Từ tháng 01/2025, đến nay, mặc dù sống chung nhà nhưng ông bà đã ly thân, mạnh ai nấy sống. Ông H1 hiện nay ở ngoài đùng, chỗ nuôi tôm cua, cách nhà khoảng 3km, thỉnh thoảng ông H1 mới về nhà nhưng bà H cũng không nói chuyện với ông H1. Nay xét thấy tình cảm không còn và không thể sống chung được với ông H1 nên bà H nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1.
Về con chung: Bà H và ông H1 có ba con chung tên là Phạm Minh T, sinh năm 1999; Phạm Minh T1, sinh năm 2001 và Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1993. Các con chung đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn – ông Phạm Văn H1 đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng không đến Tòa để làm việc nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu cho rằng:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thấy yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Bà Hồ Thị Thu H khởi kiện ông Phạm Văn H1 về việc “Ly hôn”, bị đơn – ông H1 có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa thì thấy: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ yêu cầu đến Tòa để giải quyết vụ án, xét xử, tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, bị đơn không có yêu cầu phản tố; do đó,
Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Hồ Thị Thu H và ông Phạm Văn Hòa kết H2 vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố V theo Giấy chứng nhận kết hôn số 194/2002 ngày 30/12/2002 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Thời gian chung sống, bà H và ông H1 phát sinh mâu thuẫn là có thật, điều này thể hiện qua lời trình bày của bà H: Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn gay gắt, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Ông H1 hay ghen tuông, dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi vã, đánh đập nhau. Hai bên gia đình cũng biết, nhiều lần khuyên can hai vợ chồng nhưng không được. Từ tháng 01/2025 đến nay mặc dù sống chung nhà nhưng ông bà đã ly thân, mạnh ai nấy sống. Ông H1 hiện nay ở ngoài đùng, chỗ nuôi tôm cua, cách nhà khoảng 3km, thỉnh thoảng ông H1 mới về nhà nhưng bà H cũng không nói chuyện với ông H1. Lời trình bày của bà H phù hợp với kết quả xác minh tình trạng mâu thuẫn gia đình của Tòa án tại địa phương nơi vợ chồng ông bà cư trú.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng bà H hòa giải để giải quyết mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình nhưng không đạt kết quả vì ông H1 không tới Tòa làm việc, bà H cũng có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Qua đó, có thể khẳng định vợ chồng bà H đã bỏ mặc hạnh phúc gia đình, vợ chồng không còn quý trọng nhau, không chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Nhận thấy, khả năng hàn gắn tình cảm giữa bà H và ông H1 là không thể thực hiện được, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
[2.2] Về con chung:
Bà Hồ Thị Thu H và ông Phạm Văn H1 có ba con chung tên là Phạm Minh T, sinh năm 1999; Phạm Minh T1, sinh năm 2001 và Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1993. Các con chung đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Thị Thu H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thu H đối với ông Phạm Văn H1.
- Về hôn nhân: Bà Hồ Thị Thu H được ly hôn với ông Phạm Văn H1.
- Về con chung: Bà Hồ Thị Thu H và ông Phạm Văn H1 có ba con chung tên là Phạm Minh T, sinh năm 1999; Phạm Minh T1, sinh năm 2001 và Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1993. Các con chung đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002700 ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu. Bà H đã nộp xong.
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thị Hồng Lợi |
Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn
