|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/11/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hợp; Ông Nguyễn Văn Kiện;
Thư ký phiên toà: Ông Danh Lý Khang – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXX-HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Danh Thị Bé H, Sinh năm: 1989
Địa chỉ: ấp Vĩnh Hội, xã Bình An, tỉnh An G. - * Bị đơn: Ông Lê Hết A, sinh năm: 1976
Địa chỉ: ấp Vĩnh Hội, xã Bình An, tỉnh An G.
(Bà Danh Thị Bé H và ông Lê Hết A vắng mặt tại phiên toà và có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Danh Thị Bé H trình bày: tôi và ông Lê Hết A được gia đình hai bên chấp nhận nên quyết định đi đến kết hôn, có tổ chức hôn lễ theo phong tục, tập quán, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống chúng tôi có 03 người con chung tên Lê Trọng Ng, sinh năm: 2009; Lê Thị Thanh Th, sinh năm: 2010; Lê Thị Trà M, sinh năm: 2018. Ngoài ra vợ chồng tôi không có tài sản chung hay nợ chung.
Thời gian đầu vợ, chồng sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, hiện nay vợ chồng tôi đã ly thân. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không đạt nên tôi làm đơn khởi kiện gửi đến Toà án, yêu cầu giải quyết cho tôi như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Toà án không công nhận quan hệ vợ, chồng giữa tôi với ông Lê Hết A.
- Về con chung: Tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Trà M, sinh năm: 2018; còn đối với 02 cháu Lê Trọng Ng, sinh năm: 2009; Lê Thị Thanh Th, sinh năm: 2010, đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của các cháu.
- Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Hết Anh có trình bày như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Do vợ, chồng tôi không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
- - Về việc nuôi con chung: xin tiếp tục được nuôi dưỡng 03 người con chung là Lê Trọng Ng, sinh năm: 2009; Lê Thị Thanh Th, sinh năm: 2010; Lê Thị Trà M, sinh năm: 2018 và không yêu cầu cấp dưỡng.
- - Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang: Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận bà Danh Thị Bé H với ông Lê Hết A là vợ, chồng. Về con chung: Giao các cháu cho ông Lê Hết A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ chung: Không xem xét do không yêu cầu. Về án phí: Bà Danh Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
[1] - Về thủ tục tố tụng:
[1.1] – Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang nhận được đơn khởi kiện bà Danh Thị Bé H yêu cầu ly hôn với ông Lê Hết A, tuy nhiên cả 02 không có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định pháp luật, nhưng đây vẫn là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
[1.2] – Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa bà Danh Thị Bé H; ông Lê Hết A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng bà H; ông A vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vụ án vắng mặt bà Hai và ông A là đúng theo quy định pháp luật.
[2] - Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Danh Thị Bé H và ông Lê Hết A đều xác định: Cả 02 chung sống tự nguyện với nhau và có tổ chức đám cưới vào năm 2008, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nên quan hệ của bà Hai với ông Anh không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[3]- Về con chung: Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay cả 03 con chung đang chung sống với ông A, các cháu vẫn có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với ông A, do đó cần tiếp tục giao cháu Lê Trọng Ng; Lê Thị Thanh Th; Lê Thị Trà M cho ông Lê Hết A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] - Về tài sản chung: Các đương sự xác định không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] - Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành.
Tuyên Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Danh Thị Bé H với ông Lê Hết A là vợ, chồng.
- Về con chung: Giao 03 người con chung là Lê Trọng Ng, sinh năm: 2009; Lê Thị Thanh T, sinh năm: 2010; Lê Thị Trà M, sinh năm: 2018 cho ông Lê Hết A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Do ông Anh không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.
- Về tài sản chung: bà Danh Thị Bé Hai và ông Lê Hết Anh xác định không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: bà Danh Thị Bé H và ông Lê Hết A xác định không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc bà Danh Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 3, tỉnh An Giang; - Phòng THADS khu vực 3, tỉnh An Giang; - UBND xã Bình An, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Pì Sách |
Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 20/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÉ HAI - HẾT ANH
