|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 6 - 2025.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trung Dũng
2. Bà Huỳnh Ngọc Thi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXX-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 01/01/1989 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Số A đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc M, sinh ngày 30/8/2002 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Số A, Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Q trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Trúc M tự tìm hiểu yêu thương nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã được UBND phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 105, ngày 18/5/2023.
Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau này cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, mặc dù vợ chồng ông đã cố gắng khắc phục nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng nhiều, bà M đã về nhà cha mẹ ruột ở V, Hậu Giang sống từ tháng 3/2025, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc và dành tình cảm cho nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Q làm đơn khởi yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà M.
Về con chung: Ông Q xác định vợ chồng ông có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thị Mỹ K- sinh ngày 05/3/2024. Ông yêu cầu giao con chung cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con. Ông cam đoan đảm bảo cho bà M thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Q xác định vợ chồng ông không có tài sản chung hay nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc M trình bày:
Bà M thống nhất với lời trình bày của ông Q về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung, nợ chung.
Bà M xác định quá trình chung sống giữa vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hay cải vã, mặc dù hai bên đã cố gắng khắc phục nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng nhiều; nguyên nhân do bà phát hiện ông Q không chung thủy, có mối quan hệ không rõ ràng với người khác bên ngoài, nên bà đã về nhà cha mẹ ruột tại thành phố V, tỉnh Hậu Giang sinh sống từ tháng 3/2025, vợ chồng cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. N thấy hôn nhân không hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ, nên ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà M đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Thanh Q.
Về con chung: Bà M xác định vợ chồng chung sống có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thị Mỹ K- sinh ngày 05/3/2024.
Hiện tại cháu Kim C mới 15 tháng tuổi và là bé gái, khi sinh con thì mẹ con bà về bên ngoại ở 02 tháng, sau đó thì về bên chồng sinh sống, từ tháng 3/2025 thì bà đưa con về nhà mẹ ruột ở V, Hậu Giang sinh sống cho đến nay. Từ khi sinh đến nay con đều do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông Q không có hỗ trợ bà trong việc chăm sóc con, do đó bà không đồng ý giao con cho ông Q nuôi dưỡng; bà M yêu cầu giao con chưa đủ 36 tháng tuổi cho bà trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định pháp luật, bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Bà M cam đoan đảm bảo cho ông Q được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M thống nhất vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
- Ông Nguyễn Thanh Q xác định nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn là do bà M có tình cảm với người đồng giới và từng bỏ nhà đi, ông phải đi rước về, đến tháng 03/2025 thì bà M đưa con bỏ về nhà mẹ ruột tại V, Hậu Giang ở cho đến nay. Nay ông giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà M cũng như yêu cầu về việc nuôi con chung, yêu cầu giao con cho ông nuôi dưỡng vì ông có điều kiện về kinh tế, có thu nhập, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện để nuôi con hơn bà M, ông không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con; ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.
- Bà Nguyễn Thị Trúc M giữ nguyên ý kiến trình bày, bà M xác định mâu thuẫn vợ chồng là do trong thời gian bà ở cữ sau khi sinh con ông Q không chung thủy, có mối quan hệ không rõ ràng, nhắn tin tìm kiếm phụ nữ khác bên ngoài và trong đời sống vợ chồng không hòa hợp do ông Q có những đòi hỏi về nhu cầu sinh lý không được bình thường bà không thể đáp ứng được mới bỏ về nhà mẹ ruột ở cho đến nay. Nay bà M đồng ý ly hôn với ông Q nhưng không đồng ý giao con cho ông Q nuôi dưỡng, bà M yêu cầu giao con chưa đủ 36 tháng tuổi cho bà trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định pháp luật, bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con; ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Q khởi kiện xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Trúc M và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung; do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại đơn khởi kiện ông Q xác định địa chỉ cư trú của bị đơn bà Nguyễn Thị Trúc M tại: Số A đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, Quá trình giải quyết vụ án cả ông Q và bà M đều thống nhất xác định bà M đã chuyển đăng ký thường trú và về sinh sống tại địa chỉ: Số A, Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang từ tháng 3/2025 (tức trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án) cho đến nay; do đó, ông Q và bà M đã cùng thống nhất thỏa thuận yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá là Tòa án nơi nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Q cư trú, sinh sống giải quyết vụ án. Trên cơ sở ý kiến thống nhất của nguyên đơn và bị đơn về việc thỏa thuận Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá là Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn giải quyết vụ án, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, phù hợp quy định pháp luật.
[3] Xét quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Thanh Q và bà Nguyễn Thị Trúc M được xác lập trên cơ sở tự nguyện; ông bà chung sống có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã được UBND phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 105, ngày 18/5/2023; nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Thanh Q và ý kiến của bà Nguyễn Thị Trúc M, Hội đồng xét xử nhận định:
Theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ vợ chồng phải dựa trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ; vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc.
Tại phiên tòa, ông Q xác định quá trình chung sống vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn, bất hòa do bà M có tình cảm với người đồng giới; phía bà M thì cho rằng ông Q không chung thuỷ, trong thời gian bà ở cữ sau khi sinh con ông Q nhắn tin tìm kiếm phụ nữ khác bên ngoài và trong đời sống riêng tư của vợ chồng không hòa hợp nên bà mới bỏ về nhà mẹ ruột ở V, Hậu Giang sống từ tháng 3/2025, vợ chồng cũng ly thân từ đó cho đến nay, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc và dành tình cảm cho nhau nữa. Do đó, cả ông Q và bà M đều xác định hôn nhân không hạnh phúc, không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng nên ông bà thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn. Qua xem xét, đánh giá Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa ông Q và bà M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, hôn nhân không có khả năng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q, xử cho ông được ly hôn với bà M.
[5] Xét yêu cầu của ông Q và bà M về việc nuôi con chung, Hội đồng xét xử nhận định:
Ông Q và bà M chung sống có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thị Mỹ K- sinh ngày 05/3/2024, giới tính: Nữ, hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, cả ông Q và bà M đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; tuy nhiên bà M không đồng ý giao con dưới 36 tháng tuổi cho ông Q nuôi.
Xét thấy, hiện tại cháu Kim C mới 16 tháng tuổi, là bé gái, hiện do bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, bà M vẫn đang nuôi con bằng sữa mẹ và vẫn đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K ổn định. Tại phiên tòa, ông Q cũng thừa nhận kể từ khi con được sinh ra cho đến nay, bà M là người giữ vai trò chính, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con; ông Q vì lý do công việc nên chỉ hỗ trợ trong việc chăm sóc con; đồng thời ông cũng xác nhận bà M và gia đình không cản trở khi ông đến thăm con.
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi. Quá trình trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con bà M vẫn đảm bảo quyền lợi của cháu K; không có căn cứ cho thấy bà M không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con; việc duy trì người chăm sóc chính từ trước đến nay sẽ bảo đảm sự ổn định về tâm lý và môi trường sống cho cháu bé. Do đó yêu cầu của ông Q về việc nuôi con chung là không phù hợp quy định pháp luật, mặt khác bà M cũng không tự nguyện thỏa thuận giao con dưới 36 tháng tuổi cho ông Q nuôi nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để ghi nhận.
Từ những nhận định trên, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu K, đặc biệt trong giai đoạn cháu còn nhỏ tuổi, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu của ông Q, chấp nhận ý kiến của bà M, giao cháu Nguyễn Thị Mỹ K cho bà M được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật và đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ; không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu, riêng ông Q không trực tiếp nuôi con vẫn được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q và bà M cùng thống nhất xác định không có, không yêu cầu giải quyết; do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Q về việc ly hôn. Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Thanh Q và bà Nguyễn Thị Trúc M.
- Về quan hệ con chung: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Q về việc nuôi con chung. Xử giao con chung giữa ông Nguyễn Thanh Q và bà Nguyễn Thị Trúc M là cháu Nguyễn Thị Mỹ K- sinh ngày 05/3/2024 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.
Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung: Ông Q và bà M xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Q và bà M xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Q đã nộp, theo biên lai thu tiền số 76 ngày 29/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2025).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Trần Trung Dũng Huỳnh Ngọc T |
Huỳnh Kim Y |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Kim Yến
|
Nơi nhận:
|
Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Q xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung dưới 36 tháng tuổi với Nguyễn Thị Trúc M
