|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/3/2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đăng Thiện
- Ông Nguyễn Văn Sâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Á, sinh năm 1999; số định danh cá nhân: 038199014678; địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Ninh Văn S, sinh năm 1997; số định danh cá nhân: 038097027280; địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 17 tháng 10 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị Á trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ninh Văn S qua việc tìm hiểu, lấy nhau do hai bên tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 24/5/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong gia đình, anh S ham chơi, không tu chí làm ăn, nợ nần nhiều. Chị và hai bên gia đình đã cố gắng hòa giải, hàn gắn tình cảm để vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng không được, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Từ năm 2021 thì vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm tình cảm với nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Chị Vũ Thị Á xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Ninh Văn K, sinh ngày 30/4/2020. Ly hôn, chị Á có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; Chị Á không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: Chị Vũ Thị Á xác định để vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Ninh Văn S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.
Tại biên bản xác minh lập ngày 06/01/2025, đại diện UBND xã Q cho biết: Chị Vũ Thị Á và anh Ninh Văn S có quan hệ là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện T vào ngày 24/05/2019. Qúa trình chung sống vợ chồng chị Á và anh S có 01 con chung là cháu Ninh Văn K, sinh ngày 30/4/2020. Hiện nay chị Vũ Thị Á và anh Ninh Văn S đã sống ly thân, con chung là cháu K đang ở với chị Á. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm bắt được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:
I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân gia đình” và thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Nguyên đơn chị Vũ Thị Á có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn anh Ninh Văn S vắng mặt lần thứ 2, không có lý do. Căn cứ theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị xét xử vắng mặt chị Á, anh S.
- Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Á, xử cho chị Vũ Thị Á được ly hôn với anh Ninh Văn S.
- Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị HĐXX giao con chung là cháu Ninh Văn K, sinh ngày 30/4/2020 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom con chung, không được ai cản trở.
- Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc nguyên đơn chị Vũ Thị Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Vũ Thị Á khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Ninh Văn S, hiện đang cư trú tại: Thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Ninh Văn S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn là chị Vũ Thị Á có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Á và anh Ninh Văn S tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/5/2019, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Á và anh S là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có sự tôn trọng và chia sẽ với nhau trong gia đình, bất đồng về quan điểm, nên thường xuyên xảy ra việc cãi vã, xúc phạm nhau. Từ năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân. Qúa trình giải quyết vụ án, chị Á một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn; Anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh S không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị Á và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Á, xử cho chị Vũ Thị Á được ly hôn với anh Ninh Văn S.
[3] Về con chung: Chị Vũ Thị Á và anh Ninh Văn S có 01 con chung là cháu Ninh Văn K, sinh ngày 30/4/2020.
Xét: Quá trình giải quyết vụ án, chị Á có ý kiến xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đã chứng minh được các điều kiện để nuôi con, trong khi anh S không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến về nuôi con chung; hơn nữa thực tế hiện nay con đang ở với chị Á từ khi vợ chồng ly thân năm 2021 đến nay, đã được chị Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần thiết giao con chung cho chị Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Á không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là sự tự nguyện của chị Á và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do đo, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản và công nợ: Chị Vũ Thị Á không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Ninh Văn S không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Vũ Thị Á phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Á được ly hôn với anh Ninh Văn S.
- Về con chung: Chị Vũ Thị Á và anh Ninh Văn S có 01 (một) con chung là cháu Ninh Văn K, sinh ngày 30/4/2020. Giao con chung là cháu Ninh Văn K cho chị Vũ Thị Á được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Ninh Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Ninh Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Vũ Thị Á phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị Á đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002822 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Như vậy, chị Vũ Thị Á đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Minh Tiến |
Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
