|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST Ngày 17-6-2025 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân.
Ông Lê Văn Lài.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Quỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có đơn vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng Q, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/01/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Nguyên Thị T trình bày:
Bà và ông Lê Hoàng Q chung sống với nhau năm 2018 đến năm 2021 thì làm đơn khởi kiện ly hôn tại Toà án, tuy nhiên thời gian sau này ông Q và bà hoà thuận nên đầu năm 2023 bà và ông Q về chung sống lại với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh vào ngày 03/3/2023. Sau khi về chung sống lại với nhau được khoảng 05 đến 06 tháng thì ông Q bỏ nhà đi đâu không rõ, bà hỏi thì ông Q nói đi làm ăn, được khoảng hai tháng sau ông Q liên lạc về rồi ghen tuông với bà và sau này không còn liên lạc lại với bà nữa. Bà và ông Q ly thân nhau cách nay đã 09 tháng.
Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – ông Lê Hoàng Q: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Q không đến, không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Hoàng Q. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn cư trú tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
[3] Bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Lê Hoàng Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Q.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Q chung sống với nhau vào năm 2023 là hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 03/3/2023 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Q là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[2] Xét thấy: Sau khi kết hôn bà T và ông Q chung sống hạnh phúc được thời gian 06 tháng, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà T trình bày là do ông Q ghen tuông với bà và bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Phía ông Q, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Q, nhưng ông Q không đến Tòa án và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của bà T nên không có ý kiến trình bày.
[3] Thấy rằng: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...”. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân giữa bà T và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông Q.
[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Hoàng Q không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, xét thấy: Đây là đề nghị có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Hoàng Q.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Hoàng Q không có con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0010356 ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Bà T đã nộp xong.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phượng |
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
|
Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Ly hôn với ông Lê Hoàng Q
