Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số:81/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/11/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Mạnh.

Ông Đỗ Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 280/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc : “ Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lương Văn T, sinh năm 23/02/1989.

Căn cước công dân số: [...].

Đăng ký thường trú: Đội 9, thôn P, xã M, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Chị Trương Thị D, sinh ngày 23/10/1988.

Căn cước công dân số: [...].

Đăng ký thường trú: thôn K, xã C, tỉnh Thanh Hóa.

(Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Lương Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trương Thị D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/3/2009 tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Hà Tây (nay là xã M, thành phố Hà Nội). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm, lối sống, không hòa thuận, thường xuyên cãi vã xung đột, không khí gia đình ngột ngạt, thờ ơ lạnh nhạt với nhau. Anh đã tìm nhiều biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng anh đã ly thân từ tháng 5/2013 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin ly hôn chị Trương Thị D để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Anh và chị Trương Thị D có 02 con chung là cháu Lương Thị X, sinh ngày 27/12/2008 và cháu Lương Thị T1, sinh ngày 13/01/2011. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu X và cháu T1 ở với anh. Nay ly hôn, anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu X và cháu T1, anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai và Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trương Thị D trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và và anh Lương Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/3/2009 tại UBND xã H, huyện M, TP Hà Nội (nay là xã M, TP Hà Nội). Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống ở địa phương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi vã, chửi nhau, không có hạnh phúc. Chị đã tìm nhiều biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nên chị đã chuyển đi nơi khác ở, vợ chồng ly thân từ tháng 5/2013 đến nay, mỗi người cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, không thể đoàn tụ, chị đồng ý ly hôn với anh Lương Văn T.

- Về con chung: Chị và chị Lương Văn T có 02 con chung là cháu Lương Thị X, sinh ngày 27/12/2008 và cháu Lương Thị T1, sinh ngày 13/01/2011. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu X và cháu T1 ở với anh T. Nay ly hôn, chị đồng ý để anh T tiếp tục trực tiếp nuôi cháu X và cháu T1.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôn nay, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lương Văn T, xử cho anh Lương Văn T được ly hôn chị Trương Thị D.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Thị X, sinh ngày 27/12/2008 và cháu Lương Thị T1, sinh ngày 13/01/2011. Anh T xin trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, chị D đồng ý. Do vậy, giao cho anh Lương Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lương Thị X và cháu Lương Thị T1. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lương Văn T về việc không yêu cầu chị Trương Thị D cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.

- Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Anh Lương Văn T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Anh Lương Văn T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn chị Trương Thị D nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Trương Thị D, số Căn cước công dân [...] có đăng ký thường trú tại: thôn K, xã C, tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, theo dữ liệu quốc gia về dân cư thể hiện chị Trương Thị D còn có số Căn cước công dân [...], đăng ký thường trú tại: Đ, thôn P, xã M, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, Tòa án xác minh tại Công an xã M, thành phố Hà Nội thể hiện chị Trương Thị D, số Căn cước công dân [...] và chị Trương Thị D còn có số Căn cước công dân [...] là cùng một người, hiện nay chị D có đăng ký thường trú tại: thôn K, xã C, tỉnh Thanh Hóa. Anh T và chị D đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội là nơi đã thụ lý vụ án tiếp tục giải quyết vụ việc ly hôn của anh, chị nên vụ việc thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội theo quy định điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Anh Lương Văn T và chị Trương Thị D được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã H, huyện M, TP Hà Nội (nay là xã M, TP Hà Nội) vào ngày 22/3/2009 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 5/2013 đến nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T và chị D đều có văn bản thể hiện quan điểm xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị tòa án xét xử vắng mặt cho anh chị được ly hôn. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị D đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của anh T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.1]. Về con chung:

Anh Lương Văn T và chị Trương Thị D có 02 con chung là Lương Thị X, sinh ngày 27/12/2008 và Lương Thị T1, sinh ngày 13/01/2011. Hai con khỏe mạnh, hiện đang ở với anh T.

Xét yêu cầu yêu cầu xin trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung của anh T, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu X và cháu T1 sinh sống ổn định với anh T. Chị D có quan điểm đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con. Cháu X và cháu T1 có đơn thể hiện quan điểm xin ở với anh T. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung và phù hợp với sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên cần thiết chấp nhận yêu cầu của anh T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, theo đó giao hai cháu Lương Thị X và Lương Thị T1 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của anh T về việc không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung:

Các đương sự trình bày không có, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí:

Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 01, do Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội (nay là xã M, thành phố Hà Nội) cấp ngày 22/3/2009;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Lương Văn T đối với chị Trương Thị D.

Xử anh Lương Văn T được ly hôn chị Trương Thị D.

2. Về con chung: Xác nhận anh Lương Văn T và chị Trương Thị D có 02 con chung Lương Thị X, sinh ngày 27/12/2008 và Lương Thị T1, sinh ngày 13/01/2011.

Giao 02 con chung Lương Thị X, sinh ngày 27/12/2008 và Lương Thị T1, sinh ngày 13/01/2011 cho anh Lương Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lương Văn T về việc không yêu cầu chị Trương Thị D cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị D cho đến khi có quyết định thay đổi khác.

Sau khi ly hôn, chị Trương Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Anh Lương Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010992 ngày 10/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Lương Văn T và bị đơn chị Trương Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 12 - Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 12 - Hà Nội;
  • - UBND xã Mỹ Đức, TP Hà Nội;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger