Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05-12-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đoàn Văn Vui;
  2. Ông Nguyễn Thanh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thuỳ – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 127/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hoàng A, sinh ngày 11/12/1987;

CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

Địa chỉ liên hệ: ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: anh Trần Phương N, sinh ngày 05/4/1981;

CCCD số: 0083081017014; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

(Chị A có yêu cầu giải quyết vắng mặt; anh N vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng A trình bày:

Chị và anh Trần Phương N do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2006. Anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị nhiều lần tìm cách tháo gỡ; cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị và anh N ly thân từ năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về nuôi con chung: chị A và anh N có 02 người con chung là Trần Minh H, sinh ngày 16/9/2005 và Trần Minh T, sinh ngày 27/12/2010, hiện nay đang sống với anh N. Sau khi ly hôn, chị A đồng ý cho anh N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, chị A không cấp dưỡng nuôi cháu T. Riêng cháu H đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về chia tài sản chung: không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị A không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Do bận công việc nên chị A yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt và không có khiếu nại về sau.

Anh N vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa nên không có lời trình bày.

Tại bản tự khai ngày 17/11/2025, chị A trình bày: từ lúc chị nộp đơn khởi kiện đến nay, tình trạng hôn nhân giữa chị với anh N không có cải thiện; vợ chồng chị A vẫn còn ly thân; nguyên nhân mâu thuẫn chưa được tháo gỡ. Chị A giữ yêu cầu xin ly hôn với anh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long đề nghị:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • - Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hoàng A được ly hôn đối với anh Trần Phương N.
  • - Về con chung: cháu Trần Minh H, sinh ngày 16/9/2005 đã trưởng thành, chị A không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết. Giao cháu Trần Minh T, sinh ngày 27/12/2010 cho anh Trần Phương N trực tiếp nuôi dưỡng; chị A không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí ly hôn: chị A phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị Hoàng A khởi kiện tại Toà án nhân dân Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Phương N. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.

Nguyên đơn chị A có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Trần Phương N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt chị A, anh N là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị A:

Chị A và anh N tự nguyện kết hôn vào năm 2006 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long). Anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/02/2006. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, theo chị A, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị đã tìm cách tháo gỡ; cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị A và anh N ly thân từ năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai sống mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, tình hình sức khỏe, cuộc sống, sinh hoạt của nhau không ai biết đến ai. Chị A xác định không còn tình cảm với anh N nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Đối với anh N, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham dự các phiên họp, phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này có cơ sở khẳng định, anh N không còn tha thiết và không mong muốn tiếp tục, duy trì quan hệ hôn nhân với chị A. Tại bản tự khai ngày 17/11/2025, chị A trình bày: từ lúc chị nộp đơn khởi kiện đến nay, tình trạng hôn nhân giữa chị với anh N không có cải thiện; nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn không được tháo gỡ; vợ chồng chị vẫn còn ly thân. Đến nay, chị vẫn còn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh N. Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: chị A và anh N có 02 người con chung là Trần Minh H, sinh ngày 16/9/2005 và Trần Minh T, sinh ngày 27/12/2010, hiện nay đang sống với anh N. Sau khi ly hôn, chị A đồng ý để anh N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, chị A không cấp dưỡng nuôi cháu T. Riêng cháu H đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh N vắng mặt không có lời trình bày nên Tòa án căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập được để giải quyết. Xét thấy, theo lời trình bày của chị A xác định: từ trước đến nay cháu T sống với anh N khỏe mạnh, anh N lo cho cháu chu đáo và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Ngoài ra, cháu Trọng sống với anh N đã lâu, cuộc sống ổn định không nên thay đổi người nuôi con làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Vì vậy, cần giao cháu T cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con. Riêng cháu Trần Minh H, sinh ngày 16/9/2005 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[4] Về cấp dưỡng: chị A không cấp dưỡng nuôi con. Anh N vắng mặt không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết anh N có quyền yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về chia tài sản chung: chị A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: chị A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Chị A không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.

- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hoàng A xin ly hôn đối với anh Trần Phương N;

  • * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hoàng A với anh Trần Phương N.
  • * Về nuôi con chung: anh Trần Phương N đượctiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Minh T, sinh ngày 27/12/2010. Chị Nguyễn Thị Hoàng A không cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Phương N.

Riêng cháu Trần Minh H, sinh ngày 16/9/2005 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Hoàng A được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con; anh Trần Phương N có quyền yêu cầu chị Nguyễn Thị Hoàng A cấp dưỡng nuôi con.

  • * Về chia tài sản chung: chị Nguyễn Thị Hoàng A xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  • * Về nợ chung: chị Nguyễn Thị Hoàng A xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Hoàng A không yêu cầu anh Trần Phương N cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị Hoàng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004667 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Khu vực 6 – Vĩnh Long;
  • - UBND xã Chợ Lách;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hoàng A ly hôn Trần Phương N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger