|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 81/2025/DS-ST Ngày: 24/6/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải
Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 40/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T1; Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A, Tháp B, Khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà cao tầng tại lô đất 1-13 thuộc Khu C- Số A, đường T, Phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Ông CHUN YOUNG ILL – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1994; bà Lê Thị Thảo N, sinh năm: 1997; ông Trần Hoàng H, sinh năm: 1991; bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm: 1991; bà Đỗ Thị Thùy T, sinh năm: 1988 tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền số 53/2024/UQ-KK-SVFC ngày 12/12/2024 và giấy uỷ quyền số 27/UQ.24 ngày 24 tháng 12 năm 2024), bà N có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ L - sinh năm: 1993. Địa chỉ: Số G H, tổ B, phường T, quận H, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Thảo N trình bày:
Ngày 03/09/2019, Công ty T1 (sau đây gọi tắt là Công ty T1) và Bà Trần Thị Mỹ L có ký kết hợp đồng tín dụng số [...]. Theo đó, Công ty T1 cho Bà Trần Thị Mỹ L vay số tiền 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng) với lãi suất thỏa thuận 36%/năm, mục đích vay: mua đồ dùng, trang thiết bị gia đình; loại hình vay: tín chấp (không yêu cầu tài sản đảm bảo). Vào ngày 03/09/2019, Công ty T1 đã giải ngân đủ số tiền 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng) cho Bà Trần Thị Mỹ L. Căn cứ quy định của hợp đồng, Bà Trần Thị Mỹ L có nghĩa vụ thanh toán khoản vay bao gồm gốc và lãi trong vòng 36 kỳ vào ngày 10 hàng tháng, mỗi tháng trả 1.780.370 đồng, kỳ đầu tiên vào ngày 10/09/2019, kỳ cuối cùng thanh toán số tiền 1.780.372 đồng vào ngày 10/08/2023.
Tuy nhiên, trong quá trình diễn ra hợp đồng, Bà Trần Thị Mỹ L đã không thanh toán đầy đủ cho Công ty T1 và tính đến ngày 10/07/2021, Bà Trần Thị Mỹ L chỉ mới thanh toán cho Công ty T1 tổng cộng 23 kỳ với tổng số tiền là 40.969.514 đồng (trong đó tiền gốc đã trả: 15.019.977 đồng; tiền lãi đã trả: 25.949.537 đồng). Kể từ sau ngày 10/07/2021 cho đến nay bà Trần Thị Mỹ L không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho Công ty T1 mặc dù Công ty T1 đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu thanh toán. Việc Bà Trần Thị Mỹ L không thanh toán tiền cho Công ty T1 là vi phạm thỏa thuận Hợp đồng, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T1. Vì vậy, Công ty T1 đã khởi kiện bà Trần Thị Mỹ L ra Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để yêu cầu giải quyết buộc bà Trần Thị Mỹ L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 24/06/2025 (ngày tạm tính) là 94.717.278 đồng (trong đó nợ gốc 30.980.023 đồng, nợ lãi trong hạn tạm tính 13.519.599 đồng, lãi quá hạn 4.281.958 đồng, lãi gốc quá hạn 45.935.698 đồng) và tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng trên dư nợ gốc từ ngày 25/06/2025 cho đến khi thanh toán xong dự nợ gốc.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Trần Thị Mỹ L để cung cấp bản tự khai và tham gia tố tụng tại phiên toà theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên bà Trần Thị Mỹ L vắng mặt không có lý do, không nộp bản tự khai trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có tài liệu, chứng cứ lưu trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn bà Trần Thị Mỹ L vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và không có văn bản trình bày ý kiến là đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 buộc bị đơn bà Trần Thị Mỹ L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 24/06/2025 là 94.717.278 đồng (trong đó nợ gốc 30.980.023 đồng, nợ lãi trong hạn tạm tính 13.519.599 đồng, lãi quá hạn 4.281.958 đồng, lãi gốc quá hạn 45.935.698 đồng) và tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng trên dư nợ gốc từ ngày 25/06/2025 cho đến khi thanh toán xong dự nợ gốc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với bị đơn bà Trần Thị Mỹ L có địa chỉ cư trú tại G H, quận H, thành phố Đà Nẵng nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà Trần Thị Mỹ L vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Trần Thị Mỹ L.
[2]. Về nội dung vụ án: Ngày 03 tháng 9 năm 2019, Công ty T1 và bà Trần Thị Mỹ L có ký kết hợp đồng tín dụng số [...]. Theo đó, Công ty T1 cho bà Trần Thị Mỹ L vay số tiền 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng) với lãi suất thỏa thuận 36%/năm, mục đích vay: mua đồ dùng, trang thiết bị gia đình; loại hình vay: tín chấp (không yêu cầu tài sản đảm bảo). Công ty T1 đã giải ngân đủ số tiền 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng) cho bà Trần Thị Mỹ L nhưng bà L không thực hiện đúng cam kết đã thoả thuận nên Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Trần Thị Mỹ L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 24/06/2025 là 94.717.278 đồng (trong đó nợ gốc 30.980.023 đồng, nợ lãi trong hạn tạm tính 13.519.599 đồng, lãi quá hạn 4.281.958 đồng, lãi gốc quá hạn 45.935.698 đồng) và buộc bà L tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng trên dư nợ gốc từ ngày 25/06/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 thì thấy: Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 03/9/2019 được ký kết giữa các bên là hợp pháp, thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên ràng buộc các bên tham gia ký kết. Bà Trần Thị Mỹ L không thực hiện nghĩa vụ trả khoản vay từ ngày 10/07/2021 là đã vi phạm thỏa thuận Hợp đồng làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T1. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 buộc bà Trần Thị Mỹ L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và nợ lãi cho Công ty T1 tạm tính đến hết ngày 24/06/2025 (ngày tạm tính) là 94.717.278 đồng (trong đó nợ gốc 30.980.023 đồng, nợ lãi trong hạn tạm tính 13.519.599 đồng, lãi quá hạn 4.281.958 đồng, lãi gốc quá hạn 45.935.698 đồng) và tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng trên dư nợ gốc từ ngày 25/06/2025 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc theo thỏa thuận đã ký tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 03/9/2019 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.
[4]. Đối với bà Trần Thị Mỹ L không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên phải chịu hoàn toàn hậu quả pháp lý.
[5]. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể là: 94.717.278 đồng x 5% = 4.735.864 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Các Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của nguyên đơn Công ty T1 đối với bị đơn bà Trần Thị Mỹ L.
Tuyên xử:
Buộc bà Trần Thị Mỹ L phải trả cho Công ty T1 số tiền tạm tính đến hết ngày 24/06/2025 là 94.717.278 đồng. (Chín mươi bốn triệu, bảy trăm mười bảy nghìn, hai trăm bảy mươi tám đồng). Trong đó nợ gốc 30.980.023 đồng, nợ lãi trong hạn tạm tính 13.519.599 đồng, lãi quá hạn 4.281.958 đồng, lãi gốc quá hạn 45.935.698 đồng.
Kể từ ngày 25/6/2025 bà Trần Thị Mỹ L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thoả thuận tại Hợp đồng 100118479 ngày 03/9/2019 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: 4.735.864 đ (Bốn triệu bảy trăm ba mươi lăm ngàn tám trăm sáu mươi bốn đồng) bà Trần Thị Mỹ L phải chịu.
Hoàn trả cho Công ty T1 số tiền tạm ứng án phí 2.020.193đ (Hai triệu không trăm hai mươi ngàn một trăm chín mươi ba đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005037 ngày 22/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Hồ Thị Mỹ Dung |
Bản án số 81/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 81/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Tài chính S kiện bà Trần Thị Mỹ L tranh chấp hợp đồng tín dụng
