Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 81/2025/DS-ST

Ngày: 23/5/2025

“V/v tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Kim Loan

  • Các Hội thẩm nhân dân.

    • 1/ Ông Lê Văn Tuấn

    • 2/ Ông Nguyễn Văn Sở

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2025/TLST–DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-DS ngày 04/4/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QĐST-DS ngày 25/4/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1);

    Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu A, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ, theo văn bản ủy quyền số 366/2025/UQ-VPB ngày 14/5/2025 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  • Công ty cổ phần M1 (Mars);

    Là người kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V;

    Địa chỉ: tầng A, tòa nhà V, số I D, D, Cầu G, Thành phố Hà Nội.

  • Người đại diện hợp pháp của Công ty M1: Ông Võ Trương Hoài B, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ, địa chỉ : tầng D, tòa nhà C, D N, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo văn bản ủy quyền số 1902/2025/UQ-MARS ngày 15/5/2025 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1993 (vắng mặt);

    Địa chỉ: Số A, Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/12/2024 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt V1) do bà Nguyễn Thu A đại diện trình bày:

Ngày 29/3/2024, ông Nguyễn Văn N có vay vốn tại V1 - Chi nhánh L theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2402021779705 ngày 29/3/2024 và Khế ước nhận nợ ngày 29/3/2024, cụ thể: số tiền cho vay 3.000.000.000 đồng, ngày nhận nợ 29/3/2024, thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân, mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh mua lúa gạo. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 6.49%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân (“Thời gian cố định"). Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chình lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được Bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.5%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả: 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn trả nợ, trả nợ gốc: gốc trả cuối kỳ, trả nợ lãi: định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 10, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 10/4/2024. Ngày 29/3/2024, V1 đã giải ngân và ông Nguyễn Văn N đã nhận nợ toàn bộ số tiền nêu trên theo Khế ước nhận nợ ngày 29/3/2024.

Toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn N theo Hợp đồng cho vay hạn mức nêu trên được bảo đảm bằng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1779, tờ bản đồ số 8, ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện T điều chỉnh biến động cho ông Nguyễn Văn N theo hồ sơ số 005068.CN.001 ngày 05/02/2024 và quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1780, tờ bản đồ số 8, ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện T điều chỉnh biến động cho ông Nguyễn Văn N theo hồ sơ số 005069.CN.001 ngày 05/02/2024. Tài sản này bảo đảm cho khoản vay của ông N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2402021779705 ngày 27/03/2024 do Văn phòng C chứng nhận giữa V1 – Chi nhánh L với ông Nguyễn Văn N và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, ông N đã quá hạn thanh toán nợ gốc và lãi vay cho V1. Mặc dù, Ngân hàng đã tạo điều kiện về thời gian cho khách hàng trả nợ nhưng phía ông N vẫn không có phương án trả dứt nợ cho ngân hàng.

Xét thấy bên vay không còn khả năng thanh toán nợ, do đó V1 đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và thông báo chấm dứt việc thực hiện đối với hợp đồng cho vay trên, đồng thời tiến hành khởi kiện đương sự tại Toà án nhân dân có thẩm quyền để phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ.

Ngày 28/03/2025, Ngân hàng V đã tiến hành bán khoản nợ của ông Nguyễn Văn N sang cho Công ty cổ phần M1 (viết tắt Công ty M1) theo hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS ngày 28/03/2025 và Phụ lục đính kèm ký giữa V1 với Công ty M1.

Nay Công ty M1 và V1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Nguyễn Văn N thanh toán cho V1 số tiền là: 163.457.772đồng, trong đó: nợ gốc 150.000.000 đồng, nợ lãi 13.457.772đ, thanh toán cho M số tiền là: 3.105.697.674đồng, trong đó: nợ gốc 2.850.000.000 đồng, nợ lãi 255.697.674đ.

Ngoài ra, ông Nguyễn Văn N còn phải chịu lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận của hợp đồng trên cho đến khi trả hết số nợ vay.

Trường hợp ông Nguyễn Văn N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho số tiền trên. Để đảm bảo thanh toán nợ vay, V1 và M được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp.

Sau khi phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn N phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V1 và M.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng:

Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Đối với yêu cầu của Công ty cổ phần M1 yêu cầu ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ thanh toán 95% khoản vay tại Ngân hàng TMCP V trong hợp đồng cho vay hạn mức, Khế ước nhận nợ số LN 2402021779705 vay số tiền 3.000.000.000₫ và tiền lãi đến ngày xét xử. Và xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ thanh toán 5% đối với khoản vay số LN 2402021779705 vay số tiền 3.000.000.000đ và tiền lãi đến ngày xét xử.

Xét thấy, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp thể hiện ông Nguyễn Văn N có vay và nợ của Ngân hàng TMCP V. Hiện Ngân hàng TMCP V đã bán 95 % khoản nợ của ông N nên Công ty cổ phần M1 yêu cầu ông N trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền gốc 2.850.000.000đ, tiền lãi 255.697.674đ và Ngân hàng TMCP V yêu cầu trả số tiền gốc 150.000.000đ, tiền lãi 13.457.772đ là có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu tiếp tục hợp đồng thế chấp để đảm bảo việc thi hành án.

Xét thấy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN 2402021779705 ngày 27/3/2024 được công chứng và đăng ký giao dịch đảm bảo đúng theo quy định pháp luật nên tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Tài sản thế chấp là thửa đất số 1779, 1780, TBĐ số 8, toạ lạc tại: toạ lạc tại: ấp N, xã T, huyện T, Long An chủ sở hữu ông Nguyễn Văn N để đảm bảo thi hành án là có căn cứ theo Điều 317, Điều 319 BLDS.

Đề nghị HĐXX: Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 BLDS, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền:

Ngân hàng V1 có đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng cho vay hạn mức đã ký kết, làm phát sinh vụ án tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

[1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự:

Đại diện nguyên đơn Công ty M1 và Ngân hàng V1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn N vắng mặt, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục niêm yết, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông N không đến Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với họ là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V1 yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn N trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay là 3.000.000.000 đồng. Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, nguyên đơn Ngân hàng V1 cung cấp Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2402021779705 ngày 29/3/2024 và Khế ước nhận nợ ngày 29/3/2024, ông Nguyễn Văn N là người trực tiếp ký tên để nhận tiền vay của Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh L. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định ông Nguyễn Văn N có ký hợp đồng tín dụng với nguyên đơn Ngân hàng V1 – Chi nhánh L để vay số tiền 3.000.000.000 đồng và hiện chưa thanh toán nợ gốc cho Ngân hàng.

Ngày 28/03/2025, khoản vay của ông N được Ngân hàng V1 chuyển nhượng cho Công ty M1.

Xét thấy về chủ thể ký kết hợp đồng: ngày 28/03/2025 Ngân hàng V1 ký kết hợp đồng hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS ngày 28/03/2025 và Phụ lục đính kèm ký giữa V1 với Công ty M1.

Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS và phụ lục Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS mã số PL.01.7/HĐ03 ngày 28/03/2025 có nội dung: các khoản nợ được mua bán theo hợp đồng này được xác định bằng 95% (chín mươi lăm phần trăm) của nợ gốc, nợ lãi trong hạn (ngoại trừ nợ lãi dự thu trên phần gốc trong hạn kể từ kỳ thu lãi gần nhất đến ngày chuyển giao Quyền sở hữu các Khoản Nợ Mua Bán), nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng và các văn kiện tín dụng liên quan ký giữa Bên Bán Nợ và từng Bên Nợ. Theo đó, 5% (năm phần trăm) của nợ gốc, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có); và toàn bộ nợ lãi còn lại phát sinh theo các Văn Kiện Tín Dụng vẫn thuộc sở hữu của Bên Bán Nợ và không được chuyển giao cho Bên Mua Nợ (sau đây gọi chung là “Khoản Nợ Giữ Lại”).

Các bên thống nhất bổ sung Bên Mua Nợ trở thành bên nhận bảo đảm cùng Bên Bán Nợ với các tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm của Khoản Nợ Mua Bán. Theo đó, Bên Mua Nợ cũng được hưởng các quyền và lợi ích gắn liền với các tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm của Khoản Nợ Mua Bán như Bên Bán Nợ.

Xác nhận khoản nợ đã được mua bán của khách hàng Nguyễn Văn N đối với Công ty M1 phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2402021779705 ngày 29/3/2024 và Khế ước nhận nợ ngày 29/3/2024 đã được chuyển giao cho Công ty M1 theo Hợp đồng mua bán nợ 03/2025/VPB-MARS và phụ lục Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS mã số PL.01.7/HD903 ngày 28/03/2025.

Việc mua bán nợ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành mà cụ thể là Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 của Thống đốc Ngân hàng N1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.

Tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 quy định: “Bên bán nợ là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khoản nợ được bán theo quy định tại khoản 2 Điều này”.

Tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 quy định: “4. Bên mua nợ là tổ chức, cá nhân, bao gồm: a) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N2 được Ngân hàng N1 (sau đây là Ngân hàng N1) chấp thuận hoạt động mua nợ; b) Tổ chức khác, cá nhân (bao gồm cả tổ chức, cá nhân là người cư trú và người không cư trú)”.

Tại khoản 9 Điều 1 Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 quy định: “1. Bên mua nợ trở thành người kế quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ được mua, bán của bên bán nợ kể từ thời điểm bên mua nợ nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán nợ”.

Xét thấy về chủ thể mua bán nợ theo Hợp đồng mua bán nợ 03/2025/VPB-MARS và phụ lục Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS mã số PL.01.7/HĐ03 ngày 28/03/2025 giữa Ngân hàng V1 và Công ty M1 là hợp pháp đúng quy định tại Điều 13 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 quy định về Hợp đồng mua, bán nợ. Do đó, V1 yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc 150.000.000đ và Công ty M1 yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 2.850.000.000đ là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, buộc ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng V1 số tiền vốn vay 150.000.000đ, trả cho Công ty M1 số tiền vốn vay 2.850.000.000₫ là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn. Xét thấy, việc bị đơn ông Nguyễn Văn N ký Hợp đồng cho vay hạn mức với nguyên đơn Ngân hàng V1 để vay số tiền 3.000.000.000 đồng, các bên có thỏa thuận lãi suất trong hạn là 6.49%/năm, lãi suất cho vay tiếp theo điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm, nhưng bị đơn ông Nguyễn Văn N không thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng như đã thỏa thuận. Cụ thể, theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2402021779705 ngày 29/3/2024 và Khế ước nhận nợ ngày 29/3/2024 thì số tiền lãi còn nợ là 269.155.446đồng, trong đó nợ Ngân hàng V1 là 13.457.772đ, nợ Công ty M1 là 255.697.674đ. Do đó buộc bị đơn ông Nguyễn Văn N phải thanh toán số tiền lãi cho Ngân hàng V1 là 13.457.772đ, cho Công ty M1 là 255.697.674đ là phù hợp. Ông Nguyễn Văn N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

[2.3] Về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2402021779705 ngày 27/3/2024, HĐXX thấy rằng:

Để bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2402021779705 ngày 29/3/2024 của ông Nguyễn Văn N đối với Ngân hàng V1. Ngày 27/3/2024, ông Nguyễn Văn N đã thế chấp quyền sử dụng đất là:

Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 1779 và 1780; tờ bản đồ số 08, tại địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Long An theo Hợp đồng thế chấp số LN2402021779705 ngày 27/03/2024, số công chứng 2136, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ký tại Văn phòng C giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh L với ông Nguyễn Văn N. Hợp đồng thế chấp được đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T, tỉnh Long An ngày 28/3/2024, hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, Ngân hàng V1 và Công ty M1 yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật Dân sự nên có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Về cách thức trả nợ: Để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng V1 và Công ty M1 cần buộc ông Nguyễn Văn N thanh toán số tiền như sau: Trả cho Ngân hàng V1 nợ gốc 150.000.000đ + nợ lãi 13.457.772đ= 163.457.772đ. Trả cho Công ty M1 nợ gốc 2.850.000.000₫ + nợ lãi 255.697.674₫ = 3.105.697.674đ, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Án phí, chi phí tố tụng:

[3.1] Về án phí:

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí do phải trả nợ theo quy định với mức thu là 94.113.900₫.

Ngân hàng thương mại cổ phần V được nhận lại số tiền 46.725.960 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001283 ngày 21/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

[3.2] Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng, do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng V1 được chấp nhận toàn bộ nên áp dụng Điều 157 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 buộc ông Nguyễn Văn N phải chịu, ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng V1 số tiền 10.000.000 đồng là phù hợp.

[4] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 228, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 317, 318, 463, 466 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V và Công ty cổ phần M1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Nguyễn Văn N.

    1. Buộc ông Nguyễn Văn N phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 163.457.772đ (một trăm sáu mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn, bảy trăm bảy mươi hai đồng). Trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền 3.105.697.674₫ (ba tỷ, một trăm lẻ năm triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, sáu trăm bảy mươi bốn đồng), ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    2. Tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp số LN2402021779705 ngày 27/3/2024, số công chứng 2136, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ký tại Văn phòng C giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh L với ông Nguyễn Văn N, được đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Long An vào ngày 28/3/2024 để bảo đảm thi hành án.

  2. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần V và Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ.

    Nếu số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn N phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ đến khi đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V và Công ty cổ phần M1.

  3. Về án phí, chi phí tố tụng:

    1. Về án phí:

      Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 94.113.900đ (chín mươi bốn triệu, một trăm mười ba nghìn, chín trăm đồng).

      Ngân hàng thương mại cổ phần V được nhận lại số tiền 46.725.960 đồng (bốn mươi sáu triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm sáu mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001283 ngày 21/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

    2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn N phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).

  4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án:

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng cho vay hạn mức, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  5. Về thời hiệu thi hành án:

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - CC.THADS TP Tân An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Kim Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 81/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Văn Nhựt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger