Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/DS-ST

Ngày: 09/4/2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân, ông Huỳnh Văn Sức

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 809/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐST-DS ngày 22/01/2025 và quyết định tạm ngừng phiên toà số: 297/2024/QĐST-DS ngày 09/12/2024, thông báo mở lại phiên tòa số: 03/2025/TB-TA ngày 03/3/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2025/QĐST-DS ngày 19/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần M (JUPITER).

Địa chỉ trụ sở: Tầng A, tòa nhà C, số B phố T, phường Y, Cầu G, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Anh T – chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: anh Trần Minh T1, sinh năm 1992– chức vụ: chuyên viên xử lý nợ - Công ty cổ phần M (văn bản ủy quyền số 17911/2024/UQ-XLN-JUPITERMN ngày 21/11/2024). Địa chỉ liên hệ: tầng 4, số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Anh Lê T2, sinh năm 2002, nơi cư trú: khóm M, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (yêu cầu vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T3, sinh năm 1971, nơi cư trú: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Trần Minh T1 trình bày:

Ngày 18/5/2022, Ngân hàng TMCP V1 (V2) – Chi nhánh A và anh Lê T2 có ký hợp đồng tín dụng số LN2205115744624, số tiền vay 468.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mục đích vay mua xe ô tô, lãi suất 9,5%/năm, trả lãi và vốn định kỳ vào ngày 15 hàng tháng, mỗi tháng trả vốn 7.800.000 đồng, lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả không quá 10%/năm trên số dư lãi chậm trả. Để đảm bảo khoản vay, anh Lê T2 có ký hợp đồng thế chấp số LN2205115744624 ngày 18/5/2022, tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, V3, 1.5L, 1.4L, CVT, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 67A-205.11, số khung: RL4B23F30N5123492, số máy: 2NRX824536 theo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 67010380 do Công an tỉnh A cấp ngày 18/5/2022 đứng tên anh Lê T2. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh Lê T2 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ, khoản vay đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 16/8/2023.

Ngày 30/6/2024, V2 đã bán một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng số LN2205115744624 ngày 18/5/2022 cho Công ty cổ phần M (JUPITER) theo hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER (kèm phụ lục số 01 ngày 29/6/2024), chuyển giao 90% quyền chủ nợ đối với khoản nợ đã mua và quyền đối với tài sản bảo đảm V2, đồng thời tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với 10% khoản nợ chưa bán cho JUPITER. Mặc dù nhiều lần liên hệ yêu cầu thanh toán nợ nhưng anh Lê Tân K hợp tác và vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay JUPITER yêu cầu anh Lê Tân T4 số tiền 494.255.153 đồng gồm vốn gốc 365.039.995 đồng và tiền lãi 129.215.157 tính đến ngày 09/4/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong số tiền còn nợ. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì JUPITER có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mại toàn bộ tài sản theo hợp đồng thế chấp số LN2205115744624 ngày 18/5/2022. Tài sản bảo đảm do anh Lê T2 đứng tên chủ sở hữu nhưng hiện nay không rõ ai đang quản lý, sử dụng vì có đến nhà nhưng không thấy xe. Số tiền thu được từ bán tài sản, JUPITER và V2 sẽ tự thỏa thuận phân chia phân theo tỷ lệ dư nợ (90%), còn lại 10% của V2. Trường hợp sau khi kê biên, phát mại tài sản bảo đảm mà không đủ để thanh toán dư nợ thì anh Lê Tân P tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi khoản nợ được tất toán.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 09/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, bị đơn anh Lê T2 trình bày:

Ngày 18/5/2022, anh có vay số tiền 468.000.000 đồng tại V2 - Chi nhánh A theo hợp đồng tín dụng số LN2205115744624, lãi suất thả nổi, thời hạn 60 tháng, mục đích vay mua xe ô tô. Đồng thời có ký hợp đồng thế chấp số LN2205115744624 ngày 18/5/2022, tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, V3, 1.5L, 1.4L, CVT, BKS: 67A-205.11, số khung: RL4B23F30N5123492, số máy: 2NRX824536 do anh đứng tên chủ sở hữu. Sau khi mua xe, anh giao cho người cô ruột tên Lê Thị T3 quản lý sử dụng xe đến nay, bà T3 đang ở tỉnh Bình Dương, không rõ địa chỉ cụ thể. Mỗi tháng bà T3 là người đứng ra thanh toán tiền vốn và lãi cho ngân hàng nên không rõ đã trả được bao nhiêu. Nay thống nhất còn nợ số tiền tạm tính đến ngày 03/01/2025 là 477.549.322 đồng gồm tiền gốc 365.039.995 đồng, tiền lãi 112.509.327 đồng như nguyên đơn khởi kiện, do hoàn cảnh khó khăn nên xin được trả dần và yêu cầu vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T3: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên toà, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Lê T2 có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần M số tiền 494.255.153 đồng gồm vốn gốc 365.039.995 đồng và tiền lãi 129.215.157 đồng tính đến ngày 09/4/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán. Trường hợp anh Lê T2 không trả nợ thì JUPITER có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp số LN2205115744624 ngày 18/5/2022 để thu hồi nợ. Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay để thanh toán tiền mua xe ô tô, nên đây là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn anh Lê T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T3 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê T2 và bà T3.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về việc giao kết, thực hiện hợp đồng tín dụng: Vào ngày 18/5/2022, V2 – Chi nhánh A và anh Lê T2 có ký hợp đồng tín dụng số LN2205115744624, số tiền vay 468.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mục đích để mua xe ô tô, lãi suất 9,5%/năm, được điều chỉnh khi có thay đổi theo thông báo của Ngân hàng trong từng thời kỳ và lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn trên số nợ gốc thực tế chưa thanh toán. Quá trình thực hiện hợp đồng đã vi phạm, anh Lê T2 không trả vốn và lãi, chuyển nợ quá hạn vào ngày 16/8/2023. Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số LN2205115744624 được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, thoả thuận lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.

[2.2] Ngày 30/6/2024, V2 và JUPITER ký hợp đồng mua bán nợ số 03-07/2024/VPB-JUPITER (kèm phụ lục 01), tại điểm a khoản 2 Điều 1 của hợp đồng thể hiện 90% khoản nợ của khách hàng Lê Tân phát sinh theo hợp đồng tín dụng số LN2205115744624 ngày 18/5/2022 đã được chuyển giao cho JUPITER, còn lại 10% khoản nợ vẫn thuộc quyền sở hữu của V2. Việc mua bán nợ được thực hiện theo quy định về chủ thể tại Điều 13 của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, khoản 9 Điều 1 của Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 và khoản 2 Điều 365, Điều 368 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên JUPITER có quyền khởi kiện yêu cầu anh Lê T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng tín dụng số LN2205115744624 ngày 18/5/2022.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê T2 xác định còn nợ số tiền vốn gốc 365.039.995 đồng và nợ lãi như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó buộc anh Lê T2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho JUPITER số tiền 494.255.153 đồng gồm vốn gốc 365.039.995 đồng và tiền lãi 129.215.157 đồng tính đến ngày 09/4/2025. Đối với 10% khoản nợ còn lại của anh Lê Tân T5 hợp đồng tín dụng số LN2205115744624 ngày 18/5/2022 vẫn thuộc quyền sỡ hữu của V2, do V2 không khởi kiện trong vụ án này nên không xem xét.

[2.3] Đối với yêu cầu phát mại tài sản thế chấp: Xét thấy, hợp đồng thế chấp số LN2205115744624 ngày 18/5/2022 được đăng ký giao địch đảm bảo theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, Vios G, 1.5L, 1.4L, CVT, số khung: RL4B23F30N5123492, số máy: 2NRX824536, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 67A-205.11 thuộc quyền sở hữu của anh Lê T2 theo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 67010380 do Công an tỉnh A cấp ngày 18/5/2022, nên có hiệu lực pháp luật. Nếu anh Lê T2 không trả nợ thì JUPITER có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án. Số tiền thu được từ xử lý tài sản sẽ do V2 và JUPITER tự thỏa thuận phân chia theo tỷ lệ dư nợ (bên mua nợ sở hữu 90%, bên bán sở hữu 10%) tại khoản 3 Điều 4 của hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này.

Anh Lê T2 khai sau khi mua xe thì giao cho cô ruột (bà Lê Thị T3) quản lý, sử dụng, mỗi tháng tiền vốn và lãi do bà T3 đứng ra trả cho V2, hiện nay không rõ bà T3 và tài sản đang ở đâu. Qua xác minh bà T3 không thường trú tại địa phương từ năm 2023, không ghi nhận được ý kiến của bà T3 nên không có cơ sở xác định việc bà T3 quản lý, sử dụng xe cũng như số tiền mỗi tháng đã trả vốn và lãi cho V2, nếu bà T3 và anh Lê T2 có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Tân P chịu án phí 23.770.000 đồng đồng (494.255.153 đồng x 5%) theo Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 323, Điều 357, khoản 1, 2 Điều 365, Điều 368, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, 94, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M đối với bị đơn anh Lê Tân V việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc anh Lê T2 phải trả cho Công ty cổ phần M số tiền 494.255.153 đồng (bằng chữ: Bốn trăm chín mươi bốn triệu, hai trăm năm mươi lăm ngàn, một trăm năm mươi ba đồng) gồm vốn gốc 365.039.995 đồng và tiền lãi 129.215.157 đồng tính đến ngày 09/4/2025.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Lê Tân P tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LN2205115744624, ngày 09/5/2022 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc cho Công ty cổ phần M.

2. Trường hợp anh Lê T2 không trả nợ thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp số LN2205115744624 ngày 18/5/2022, tài sản là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, V3, 1.5L, 1.4L, CVT, màu sơn đỏ, số khung: RL4B23F30N5123492, số máy: 2NRX824536, biển kiểm soát 67A-205.11 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 67010380 do Công an tỉnh A cấp ngày 18/5/2022 đứng tên Lê T2 để thu hồi nợ.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty cổ phần M không phải chịu án phí và được hoàn lại 11.100.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0011672 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Anh Lê Tân P chịu 23.770.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi ngàn) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - CCTHADS huyện Phú Tân;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 81/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần MBN JUPITER đối với bị đơn anh Lê Tân về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger