TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2025/DS-PT Ngày: 09 - 6 - 2025 V/v: “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán: ông Nguyễn Việt Hùng và bà Phạm Thị Chuyền;
Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: bà Nguyễn Thị Việt Anh – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 09/6/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2025/TLPT-DS ngày 23/4/2025 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 03/03/2025 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2025/QĐ-PT ngày 08/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 86/2025/QĐ-PT ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Bùi Thị H, sinh năm 1976 (có mặt)
Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: bà Hoàng Thị C, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người kháng cáo: bà Hoàng Thị C - là bị đơn trong vụ án.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 03/03/2025 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn - bà Bùi Thị H trình bày: ngày 28/4/2023, bà và bà Hoàng Thị C ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất diện tích 175,3 m2, địa chỉ tại thôn Đ, xã B, huyện L và tài sản gắn liền gồm 01 nhà cấp 4 và công trình phụ trợ trị giá 652.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi hai triệu đồng). Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên bà Hoàng Thị C ngày 19/11/2013. Khi ký Hợp đồng chuyển nhượng thì bà C tự nguyện đưa kèm GCNQSDĐ. Do đã thỏa thuận trước về việc chuyển nhượng đất nên ngày 25/4/2023 bà H đã trả bà C đủ 652.000.000 đồng tiền trên bằng tiền mặt và viết giấy giao tiền cùng ngày, bà C ký nhận. Đồng thời bà C cũng giao đất và tài sản gắn liền đất gồm nhà cấp 4 và các công trình phụ trợ trên thực địa, có vị trí, ranh giới tiếp giáp, các cạnh giống như GCNQSDĐ như đã ghi nhận tại Hợp đồng. Ngày 12/5/2023, GCNQSDĐ đã được thay đổi nội dung pháp lý mang tên bà Bùi Thị H. Tuy nhiên sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng đất thì bà C trình bày không có nơi ở nên đề nghị bà H cho bà C mượn đất sinh sống một thời gian, khi nào cần đòi thì bà C trả lại. Sau đó do có nhu cầu sử dụng nên bà H đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền thì bà C không trả mà tiếp tục sinh sống đến nay.
Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực và đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất. Tại phiên tòa ngày 27/02/2025, bà H rút yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực và tiếp tục yêu cầu bà C trả lại quyền sử dụng quyền sử dụng 175,3m2 đất và tài sản gắn liền đất theo diện tích đã chuyển nhượng theo GCNQSDĐ gồm 01 nhà cấp 4 loại 1 và các công trình phụ trợ khác; đồng thời yêu cầu bà C tháo dỡ các tài sản khác gắn liền diện tích 175,3m2 trên. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H trình bày trước ngày ký Hợp đồng chuyển nhượng đất và giao nhận tiền chuyển nhượng thì bà C có vay tiền bà H nhưng số tiền đó không liên quan đến việc chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền trên. Bà H cung cấp file ghi âm ngày 27/8/2023 có nội dung bà C thừa nhận đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H và đề nghị bà H cho mượn lại GCNQSDĐ để vay tiền người khác.
Bị đơn - bà Hoàng Thị C trình bày: về nguồn gốc thửa đất tranh chấp do bà C được thừa kế lại từ mẹ bà C diện tích 175,3m2, đã được cấp GCNQSDĐ mang tên bà Bùi Thị C1 ngày 19/11/2013. Bà C1 đã ly hôn năm 2001, chưa kết hôn với ai. Quyền sử dụng thửa đất diện tích 175,3m2 các tài sản gắn liền đất gồm nhà cấp 4 và công trình phụ trợ gắn liền đất đều là tài sản riêng của bà C1, không liên quan tới ai khác.
Do năm 2021, 2022 bà có vay bà H số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) để chăn nuôi nhưng chưa trả được tiền gốc và lãi. Vì vậy ngày 28/4/2023, do bà H đề nghị bà C1 ký nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng đất thì bà H cho bà C1 vay thêm tiền để tái sản xuất. Vì tin tưởng bà H nên bà C1 ký nhận vào Hợp đồng trên và giao GCNQSDĐ tại Văn phòng C2, địa chỉ tại Thị xã C. Tuy nhiên lúc ký nhận thì tinh thần không được tỉnh táo do áp lực cuộc sống hằng ngày. Trước đó bà C1 cũng ký Giấy biên nhận giao tiền ngày 25/4/2023, tuy nhiên lúc ký nhận thì tinh thần cũng không được tỉnh táo và bà C1 cũng nghĩ ký giấy để bà H cho vay thêm tiền chứ không được nhận tiền mặt. Do vậy bà xác định chỉ ký giấy để vay thêm tiền của bà H chứ không chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất diện tích 175,3 m2, địa chỉ tại thôn Đ, xã B và tài sản gắn liền gồm 01 nhà cấp 4 và công trình phụ trợ cho bà H. Sau khi bà C1 giao GCNQSDĐ cho bà H thì bà H tự ý làm lại, thay đổi tên chủ sử dụng mang tên bà H.
Về tài sản gắn liền như mô tả tại biên bản thẩm định, không có tài sản gì khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27/02/2025, bà C1 thừa nhận nội dung file ghi âm ngày 27/8/2023 mà bà H cung cấp tại phiên tòa có nội dung bà C1 đề nghị bà H cho mượn lại GCNQSDĐ để vay tiền người khác và thừa nhận đã chuyển nhượng quyền sử dụng 175,3m2 đất cho bà H là đúng, tuy nhiên lúc đó tinh thần bà C1 đang hoảng loạn nên không được tỉnh táo. Tuy nhiên sau đó bà C1 thay đổi lời khai, xác định bà C1 không nói với bà H những nội dung như trên.
Nay bà H yêu cầu trả lại quyền sử dụng 175,3m2 đất tranh chấp trên và tài sản gắn liền thì bà C1 không đồng ý do xác định không chuyển nhượng đất cho bà H.
Văn phòng C2 trình bày: Việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền ngày 28/4/2023 giữa bên chuyển nhượng là bà Hoàng Thị C, bên nhận chuyển nhượng là bà Bùi Thị H, nội dung hợp đồng là bà C đồng ý chuyển nhượng cho bà H quyền sử dụng thửa đất diện tích 175,3m2 và tài sản gắn liền, địa chỉ tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, giá đất chuyển nhượng là 652.000.000 đồng.Tại thời điểm công chứng thì bà C và bà H đều có đủ năng lực hành vi dân sự và cam đoan chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của giấy tờ liên quan đến việc giao kết hợp đồng. Các bên đều đọc lại và đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng, tự nguyện giao kết ký, điểm chỉ vào hợp đồng. Mục đích, nội dung Hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức. Việc chứng nhận Hợp đồng trên là đúng quy định Luật công chứng và các quy định pháp luật khác.
Văn phòng Đ chi nhánh huyện L trình bày: về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất diện tích 175,3m2 giữa bà C và bà H đúng quy định của Luật đất đai năm 2013 và các quy định pháp luật khác.
Kết quả thẩm định, định giá: Quyền sử dụng 175,3 m2 đất ở, địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã B, huyện L theo bản đồ địa chính xã B hiện là thửa số 568, tờ bản đồ số 34 đã được cấp GCNQSDĐ mang tên bà Hoàng Thị C ngày 19/11/2013 và tài sản gắn liền gồm: Giá quyền sử dụng đất 3.500.000 đồng/m2, 01 nhà cấp 4 loại 1 diện tích 28,58m2 = 67.020.000 đồng (diện tích trong GCNQSDĐ là 23,2m2 = 54.404.000 đồng ), 01 nhà cấp 4 loại 2 (diện tích trong GCNQSDĐ là 35,5m2 = 69.927.900đồng), 01 công trình chăn nuôi lợn, 01 công trình chăn nuôi chim, 01 mái vẩy 8,8m2 = 1.078.000 đồng; 01 cửa nhà chính 18,52m2 = 2.500.875 đồng; 02 cổng sắt = 6.267.000 đồng; 04 cột cổng xây gạch = 1.156.000 đồng; 01 tường rào xây cay 48m2 = 4.320.000 đồng; 21m2 lưới sắt B40= 2.415.000 đồng.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03/03/2025 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã căn cứ: khoản 7 Điều 95, Điều 166, khoản 3 Điều 188, Điều 203 Luật đất đai; các Điều 500, 501,502,503 Bộ luật dân sự; các Điều 147, 217, 218, 271 ,273 Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/4/2023 có hiệu lực của bà Bùi Thị H.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H: Buộc bà Hoàng Thị C phải trả lại bà Bùi Thị H quyền sử dụng 175,3m2 đất ở, địa chỉ tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Theo bản đồ địa chính xã B, huyện L hiện là thửa số 568, tờ bản đồ số 34) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/11/2013 mang tên bà Hoàng Thị C, ngày 12/5/2023 được thay đổi nội dung pháp lý mang tên bà Bùi Thị H và tài sản gắn liền gồm: 01 nhà cấp 4 loại 1 diện tích 28,58m2 (Bà H được sở hữu diện tích 23,2m2 nhà trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạm giao bà H sử dụng 5,38 m2 nhà còn lại), 01 nhà cấp 4 loại 2 (Diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 35,5m2), tổng trị giá 737.881.900 đồng (ranh giới, diện tích, sơ đồ, chiều dài các cạnh thể hiện là các điểm từ 1,2,3,F,G,H,K như miêu tả tại đo đạc, trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 27/12/2024 kèm theo bản án).
Buộc bà C phải di dời các tài sản gắn liền diện tích 175,3m2 đất trên là công trình chăn nuôi diện tích tổng cộng 77m2.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/02/2025, bà Hoàng Thị C kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bán án sơ thẩm để giải quyết lại.
Ngày 17/03/2025, Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 03/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để giải quyết lại vụ án với lý do:
- Việc Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” và giải quyết buộc bà C phải trả lại cho bà H quyền sử dụng đất, 02 gian nhà cấp 4 là xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, không đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp của vụ án phải là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
- Thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ, cụ thể: quá trình giải quyết vụ án, lời khai của bà H và bà C có nhiều mâu thuẫn. Tại phiên tòa bà H cung cấp file ghi âm có giọng nói nội dung bà C thừa nhận đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H và đề nghị bà H cho mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền người khác. Bà C không thừa nhận giọng nói trong file ghi âm bà H cung cấp là của mình và đề nghị giám định giọng nói. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bà C là không bảo đảm, vi phạm điểm c khoản 2 Điều 97, khoản 1 Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tòa án đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, thì bị đơn chỉ phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000đ. Việc Tòa án giải quyết buộc bà C phải chịu 33.515.000đ án phí dân sự sơ thẩm là không đúng, mâu thuẫn với quan hệ pháp luật tranh chấp mà Tòa án đã xác định.
- Theo biên bản định giá, Hội đồng định giá đã định giá nhà bếp diện tích 39,2m² trị giá 25.476.000đ. Theo sơ đồ kèm theo bản án, trên đất có công trình diện tích 44,7m² (diện tích công trình nằm trong phần diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận là 22,5m²). Tòa án giải quyết buộc bà C trả bà H 175,3m² đất, nhưng không giải quyết buộc bà C phải giao công trình có diện tích 22,5m² cho bà H hoặc không tuyên buộc bà C phải tháo dỡ công trình này, sẽ dẫn đến không thể thi hành được bản án.
- Tòa án giải quyết buộc bà C trả bà H 175,3m² đất nhưng lại giải quyết tạm giao cho bà H sử dụng 5,38m² nhà nằm trên hành lang giao thông là không có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị của Viện trường VKSND huyện Lục Nam. Bị đơn – bà C vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.
Tranh luận: bà H trình bày đồng ý với nội dung kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam, đề nghị HĐXX phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án, đảm bảo quyền lợi của bà cũng như đảm bảo việc thi hành bản án.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng do vắng mặt không có lý do. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà C và kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của BLTTDS đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà C; căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam, huỷ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Lục Nam giải quyết sơ thẩm lại vụ án, bà C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn HĐXX thấy: Tại phiên toà phúc thẩm ngày 9/6/2025, bà Hoàng Thị C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên được coi là từ bỏ việc kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của BLTTDS để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà C.
[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam, HĐXX thấy Toà án cấp sơ thẩm có các vi phạm nghiêm trọng sau:
[3] Đưa thiếu người tham gia tố tụng: theo tài liệu có trong hồ sơ, kết quả thẩm định thấy, hiện bị đơn đang quản lý, sử dụng diện tích đất thuộc hành lang giao thông có diện tích 198,2m2 phía trước, gắn liền với thửa đất hai bên thực hiện ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích 175,3m². Bà C đã xây dựng nhiều công trình như nhà cấp 4, nhà bếp, nhà chăn nuôi, cổng, tường rào... trên đất hành lang giao thông chắn hoàn toàn thửa đất 175,3m². Toà án cấp sơ thẩm không đưa cơ quan quản lý nhà nước về giao thông xây dựng vào tham gia tố tụng là vi phạm khoản 6 Điều 68 của BLTTDS.
[4] Toà án sơ thẩm không giải quyết hết các tài sản trên diện tích đất 175,3m² dẫn đến không thể thi hành án, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Cụ thể: theo kết quả thẩm định, định giá thì phần đất các bên thực hiện hợp đồng chuyển nhượng có các tài sản gồm: 01 nhà cấp 4 loại 1 diện tích 28,58m2, 01 nhà cấp 4 loại 2 diện tích 58,8m2, 01 nhà bếp loại c diện tích 44,7m2, công trình chăn nuôi lợn, công trình chăn nuôi chim, mái cửa nhà chính, bán mái loại 3; mái vẩy diện tích 8,8m2; 02 cổng sắt; 04 cột cổng; tường rào; khung lưới sắt B40. Bản án sơ thẩm chỉ quyết định giải quyết đối với 02 nhà cấp 4 và 77m2 khu chăn nuôi còn các tài sản khác không giải quyết, không giao cho ai quản lý hoặc buộc bị đơn phải tháo dỡ, di dời là không đảm bảo. Đặc biệt phần đất bản án quyết định buộc bị đơn trả cho nguyên đơn có 22,5m2 nhà bếp của bị đơn nhưng không giải quyết là bỏ lọt tài sản, không thể thi hành án như nội dung kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam.
[5] Xác định quan hệ pháp luật không đúng: Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” nhưng điều luật áp dụng để giải quyết lại là các điều luật nội dung về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đảm bảo. Bản chất vụ án là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bàn giao đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên đã ký. Vì vậy cần phải xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “tranh chấp về hợp đồng, giao dịch” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS để giải quyết vụ án. Từ việc xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp dẫn đến xác định sai về án phí dân sự sơ thẩm như kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam.
[6] Ngoài ra cấp sơ thẩm còn có các vi phạm sau:
Bị đơn vắng mặt tại buổi định giá, thẩm định nhưng Toà án không tiến hành thông báo kết quả định giá thẩm định cho bị đơn là vi phạm Điều 170, Điều 171 của BLTTDS.
Bản án sơ thẩm không nhận định về thẩm quyền giải quyết vụ án, không nhận định về quan hệ pháp luật tranh chấp, phiên toà diễn ra trong 03 nhưng bản án chỉ ghi trong ngày 27/02/2025 và ngày 03/03/2025 là ghi thiếu ngày diễn ra phiên toà. Ngày đầu tiên mở phiên toà là ngày 23/01/2025 sau đó phiên toà tạm ngừng để thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ nhưng không được ghi nhận trong bản án.
Bản án sơ thẩm căn cứ khoản 7 Điều 95, Điều 166, khoản 3 Điều 188, Điều 203 Luật đất đai để giải quyết vụ án nhưng không ghi rõ là Luật đất đai nào, khi xét xử vụ án thì Luật đất đai năm 2024 đã có hiệu lực pháp luật.
[7] Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp, đưa thiếu người tham gia tố tụng, giải quyết vụ án bỏ lọt tài sản dẫn đến không thể thi hành án, không giải thích hậu quả của hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu. Vì vậy cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam, huỷ bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[8] Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm: sẽ được quyết định khi Toà án sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: do bà C từ bỏ kháng cáo nên bà Hoàng Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử: đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Hoàng Thị C.
- Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử: chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Lục Nam. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 03/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Lục Nam giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: sẽ được quyết định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Hoàng Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0004681 ngày 17/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 81/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất
- Số bản án: 81/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đồi quyền sử dụng đất
