|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Kim Hường |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Hồng Xứng |
| Bà Trần Thị Ngọc Trân |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Cao Phương Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2023/HNGĐ-ST Ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thùy T, sinh năm 1994
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn: Ông CUI HUA XIANG, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số G thôn T, thôn H, thị trấn T, huyện Q, tỉnh An Huy, Trung Quốc
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông Cui H Xiang vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2023 và bản tự khai ngày 18/12/2023 bà Võ Thị Thùy T trình bày:
Năm 2020, bà tự tìm hiểu và quen biết ông Cui Hua X, sau đó nảy sinh tình cảm và tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo truyền thống Việt Nam và đăng ký kết hôn tại Trung Quốc vào ngày 10/01/2020, ghi chú kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang vào ngày 01/11/2023.
Sau khi kết hôn, ông bà sống cùng nhà chồng tại Trung Quốc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2020 bà và ông X xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xô xát, không còn sự quan tâm chia sẻ, tình cảm dần phai nhạt. Đến năm 2022, bà trở về Việt Nam sau thời gian sinh sống không hòa hợp tính cách và ngôn ngữ, ông bà không còn liên lạc với nhau từ đó đến nay.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Cui Hua X.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Cui Hua X: vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và chưa có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Thùy T theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Võ Thị Thùy T với bị đơn ông Cui Hua X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị Thùy T có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông Cui H Xiang vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ. Căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt bà Võ Thị Thùy T và ông Cui Hua X.
[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Thùy T và ông C Hua Xiang được đăng ký kết hôn tại Trung Quốc năm 2020 và ghi chú kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang vào ngày 01/11/2023 là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân ly hôn: Do trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống không phù hợp nên thường xuyên cãi vả, dẫn đến xô xát, đã nhiều lần hàn gắn nên không thành. Đến năm 2022 bà trở về Việt Nam và không còn liên lạc với ông X đến nay. Đối với ông Cui Hua X Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ nhưng ông không có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Thùy T.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Thùy T và ông Cui H Xiang hai bên đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Hiện tại bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông X. Hội đồng xét xử xét thấy đời sống chung vợ chồng của bà Võ Thị Thùy T và ông Cui Hua X không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Thùy T đối với ông Cui Hua X.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Thùy T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Võ Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu 0005502 ngày 07/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
[4] Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC.
- Về phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Võ Thị Thùy T phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000đ, bà Võ Thị Thùy T đã nộp theo biên lai 0099513 ngày 18/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thùy T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thùy T được ly hôn với ông Cui Hua X.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Thùy T xác định không có con chung, tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Án phí: Bà Võ Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000₫ theo biên lai 0005502 ngày 07/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Võ Thị Thùy T phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai 0099513 ngày 18/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Thùy T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết.
Riêng ông Cui Hua X có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hường |
Bản án số 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 81/2024/QĐXXST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Thùy T ly hôn Cui Hua X
