Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày: 17/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ, bà Nguyễn Thị Kim Huế.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Quan T; sinh năm: 1988; nơi sinh: Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số A đường L, Thôn B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; con ông Lê T1, sinh năm 1928 (đã chết) và bà Cao Thị B, sinh năm 1949; trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận; có vợ tên Nguyễn Thị Hồng U, sinh năm 1988; trú tại xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 07/08/2009, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh nhau; đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 được tại ngoại (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Tuấn H, sinh năm: 2003; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số E đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Tuấn H1, sinh năm 1978 và bà Đặng Thị H2, sinh năm 1983; trú tại xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 29/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội cố ý gây thương tích (Bản án số 41/2022/HSST). Bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của án treo, chưa được xóa án tích.

Về nhân thân: Ngày 22/7/2019, bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 19/01/2024 đến nay (có mặt).

3. Họ và tên: Trần Thanh T2; tên gọi khác: B1; sinh năm 2003; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số nhà F đường N, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; con ông Trần Xuân T3, sinh năm 1976 và bà Dương Thị Phương T4, sinh năm 1980; trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 26/06/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt số tiền 120.000.000 đồng về tội buôn bán hàng cấm (Bản án số 73/2023/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt; chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 17/01/2024 đến nay (có mặt).

Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Lê Vũ Huy H3, sinh năm: 2005; trú tại: Tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

2/ Chị: Nguyễn Thị Hồng U, sinh năm: 1998; trú tại: Số A đường L, Thôn B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 10 phút ngày 20/12/2023, tại Quảng trường 28/3, thuộc địa bàn Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã phát hiện bắt quả tang Lê Vũ Huy H3, là lái xe taxi đang đưa 01 bao tải màu đỏ nghỉ chứa pháo nổ lên xe ô tô biển kiểm soát 60K-269.61. Tiến hành kiểm tra bao tải, Cơ quan điều tra phát hiện bên trong có 04 hộp hình vuông, mỗi hộp chứa 49 ống hình trụ tròn đồng dạng, đường kính 2,3cm, cao 10cm, ký hiệu C0850, khối lượng mỗi hộp khoảng 1,7kg. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ người cùng tang vật. Đến ngày 24/12/2023, Lê Quan T là chủ số pháo trên đã đến Cơ quan điều tra Công an thành phố B đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung cụ thể như sau:

Vào khoảng đầu tháng 11 năm 2023, Lê Quan T đã mua 07 hộp pháo loại 49 ống của một người đàn ông tên L (chưa rõ lai lịch) với giá 960.000 đồng/hộp, tại khu vực cây xăng trên đường P, Phường B, thành phố B. Sau đó, T mang số pháo trên về nhà mình tại số: 175/2 đường L, xã Đ, thành phố B cất giấu, mục đích để bán lại kiếm lời. Vào sáng ngày 19/12/2023, Trần Thanh T2 gọi điện cho Nguyễn Tuấn H (là lái xe taxi), hỏi H có biết ai bán pháo không; H nói để liên hệ có gì báo lại sau. Sau đó, H gọi điện cho Lê Quan T, hỏi T có pháo bán không thì T nói có và báo giá 960.000 đồng/hộp. T hẹn với H sẽ giao pháo vào trưa ngày 20/12/2023, tại cây xăng trên đường L, xã Đ, thành phố B (gần nhà của T).

Sau đó H gọi điện báo cho T2 biết đã có pháo bán; T2 hỏi H có giao pháo vào xã L, huyện B được không thì H từ chối và nói T2 kiếm xe khác. Khoảng 19 giờ ngày 20/12/2023, T bỏ 04 hộp pháo vào 01 chiếc bao tải màu đỏ mang đến Q, Phường B, thành phố B giao cho H. Khi gặp H, T định đưa số pháo trên lên xe ô tô của H nhưng H nói T để tại gốc cây (gần bãi đậu xe taxi trong Quảng trường), còn tiền sẽ trả sau. Nghe vậy, T để bao tải chứa pháo tại gốc cây rồi lên xe đi về. Lúc này, H gọi điện báo cho T2 biết đã có pháo đang để tại gốc cây (gần bãi đậu xe taxi trong Quảng trường) và nói T2 đến nhận.

Sau đó T2 gọi điện cho Lê Vũ Huy H3, thuê H3 đến Quảng trường 28/3 nhận bao tải hàng mang đi giao cho một người tên T5 (chưa rõ lai lịch) tại xã L, huyện B với giá 300.000 đồng thì H3 đồng ý. Vì vậy, H3 điều khiển xe ô tô biển số 60K-269.61 đi đến gốc cây tại Quảng trường 28/3 lấy bao tải đựng pháo, H3 vừa đưa bao tải lên xe ô tô thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang, như nêu ở trên.

Khi H3 bị bắt thì nhóm lái xe taxi ở gần đó chứng kiến và gọi điện báo cho H biết. Nghe vậy, H liền gọi điện báo lại cho T biết; do lo sợ bị Cơ quan điều tra bắt giữ nên T đã bỏ trốn xuống thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 24/12/2023, T đã đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Sau khi bỏ trốn xuống thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo T đã gọi điện nói với chị Nguyễn Thị Hồng U (là vợ của bị cáo T) mang 03 hộp pháo còn lại trong nhà vứt bỏ; tuy nhiên chị U đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Theo chị U khai nhận, số pháo trên do bị cáo T mua về cất dấu tại nhà từ thời gian nào chị U không biết.

Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo Lê Quan T còn khai nhận, vào dịp tết Nguyên đán năm 2022, bị cáo có mua 03 hộp pháo với giá 400.000 đồng/hộp, của một đối tượng không rõ lai lịch tại bến xe M, Thành phố Hà Nội. Sau đó bị cáo mang về Thành phố B bán cho một đối tượng tên B1 (không rõ lai lịch) với giá 600.000 đồng/hộp, thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng, bị cáo tự nguyên giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Tại Kết luận giám định số 1635/KL-KTHS ngày 29/12/2023, của Phòng K1 công an tỉnh L xác định, toàn bộ 07 khối hình hộp chữ nhật chứa trong hai bao tải màu đỏ (Trong đó gồm: 04 khối “C0850” và 03 khối “KS4-4912”), bên trong mỗi khối chứa 49 viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm, gửi giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 11,4kg. Trong đó: 04 khối “C0850” có khối lượng 7,1kg; 03 khối lượng “KS4-4912” có khối lượng 4,3kg.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, biển số 60K-269.61 cho ông Lê Văn S; trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax cho anh Lê Vũ Huy H3, là chủ sở hữu. Hiện đang tạm giữ: 07 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài. Trong đó: 04 khối có dòng chữ “C0850” và 03 khối có dòng chữ "KS4-4912". Bên trong mỗi khối chứa bốn mươi bảy (47) viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2.3cm, cao 10cm, được nối với nhau bằng sợi dây truyên từ trong thân ra. Tất cả chứa trong bao tải màu đỏ được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên “Võ Như T6, Nguyễn Xuân P” và hình dấu tròn đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ". 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đồng, số máy: MGD93VN/A, số seri: G0NFP3WH0D51, số imei: 359173739938894, gắn sim số: 0912217318 của Lê Quan T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S, màu đen, số máy: CPH1912, gắn sim số: 0389339754; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xám, số máy: MGLG3LL/A, số sê ri: DNPDPWJ0D83, gắn sim số 0372231338, của Nguyễn Tuấn H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, số sê ri: F2LXDLQRKPHC, số máy: MT5K2LL/A, gắn sim số 0946931458 của Trần Thanh T2 và số tiền thu lợi bất chính là 600.000 đồng, do bị cáo T giao nộp.

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKSBL ngày 06 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố các bị cáo: Lê Quan T, Nguyễn Tuấn HTrần Thanh T2 về tội “Buôn bán hàng cấm”, theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Quan T từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Phạt bổ sung bị cáo T số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 56, 58 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, của Bản án số 41/2022/HS-ST ngày 29/4/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung. Phạt bổ sung bị cáo H số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Thanh T2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo T2 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 07 hộp pháo đựng trong 01 bao tải màu đỏ niêm phong, có chữ ký của “Võ Như T6, Nguyễn Xuân P” và dấu của “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ". Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, tạm giữ của Lê Quan T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, tạm giữ của Trần Thanh T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, tạm giữ của Nguyễn Tuấn H và số tiền thu lợi bất chính là 600.000 (sáu trăm nghìn đồng) do bị cáo T giao nộp. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S.

Các bị cáo khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Về căn cứ xác định tội: Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai các bị cáo phù hợp với lời khai nhân chứng, vật chứng thu giữ, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng đầu tháng 11 năm 2023, Lê Quan T đã mua 07 hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống của một đối tượng tên Lập (chưa rõ lai lịch), tại khu vực cây xăng trên đường P, Phường B, Thành phố B, mang về nhà tại địa chỉ: 1 đường L, xã Đ, thành phố B cất dấu nhằm mục đích bán lại kiếm lời.

Ngày 19/12/2023, Trần Thanh T2 gọi điện cho Nguyễn Tuấn H hỏi H có biết ai bán pháo không thì H gọi điện cho Lê Quan T hỏi mua 04 hộp pháo, T nói có pháo bán với giá 960.000 đồng/hộp. Vào tối ngày 20/12/2023, T mang 04 hộp pháo đến Q, Phường B, thành phố B để giao cho H. H nhận pháo nhưng nói T để tại gốc cây và gọi điện cho Trần Thanh T2 đến nhận. Do T2 bận việc nên đã nhờ Lê Vũ Huy H3 cũng là lái xe taxi đến nhận số pháo trên, mang đến xã L, huyện B để giao cho một đối tượng tên T5 (chưa rõ lai lịch). Khi H3 vừa đưa số pháo trên lên xe thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang.

Theo Kết luận giám định số 1635/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L thì 07 khối hình hộp chữ nhật gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Tổng khối lượng là 11,4kg. Như vậy, hành vi của các bị cáo: Lê Quan T, Nguyễn Tuấn HTrần Thanh T2 đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, vai trò các bị cáo: Các bị cáo: Lê Quan T, Nguyễn Tuấn HTrần Thanh T2 đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý. Các bị cáo nhận thức được việc mua bán pháo hoa nổ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Đã nhiều năm nay Nhà nước ta tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành nhưng vì vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương trong dịp tết nguyên đán.

Về vai trò các bị cáo: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công một cách chặt chẽ nên mang tính đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Lê Quan T là người mua 07 hộp pháo để bán, vì vậy cần xét xử bị cáo T mức hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn HTrần Thanh T2, đều là người đồng phạm, với vai trò giúp sức cho bị cáo T. Tuy nhiên các bị cáo chỉ mua pháo giùm người khác mà không được hưởng lợi gì, vì vậy cần xét xử mức các bị cáo mức hình phạt phù hợp. Tuy nhiên thấy rằng, các bị cáo đều là người có nhân thân xấu nên cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục thành người có ích cho xã hội.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Quan T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Các bị cáo Nguyễn Tuấn HTrần Thanh T2 là người có nhân thân xấu, trong đó bị cáo H bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội cố ý gây thương tích vào năm 2022. Bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của án treo lại phạm tội mới, vì vậy cần áp dụng khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt. Bị cáo Trần Thành T7 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt số tiền 120.000.000 đồng về tội buôn bán hàng cấm là pháo nổ vào năm 2023, đến nay chưa được xóa án tích lại phạm tội. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo: Nguyễn Tuấn HTrần Thanh T2 bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Lê Quan T, sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra đầu thú, tự nguyện nộp lại số tiền 600.000 đồng thu lợi bất chính do bán pháo vào năm 2022, có mẹ tên Cao Thị B được Nhà nước tặng thưởng Huân chương quyết thắng Hạng nhì; bị cáo Trần Thanh T2, có ông nội tên Trần Văn K được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và hạng Ba nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo Lê Quan T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có việc làm và nơi cư trú ổn định nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 07 hộp pháo chứa trong 01 bao tải màu đỏ niêm phong, có chữ ký ghi tên “Võ Như T6, Nguyễn Xuân P” và hình dấu đỏ “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ", xét thấy đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, tạm giữ của Lê Quan T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xám, tạm giữ của Nguyễn Tuấn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, tạm giữ của Trần Thanh T2 và số tiền thu lợi bất chính (600.000 đồng) do bị cáo T giao nộp; xét đây là công cụ phạm tội hoặc do phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, tạm giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn H, xét đây là vật không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo H.

[6] Các vấn đề khác:

- Trong vụ án này còn có đối tượng Lê Vũ Huy H3, là người được bị cáo Trần Thanh T2 thuê vận chuyển số pháo trên mang đi giao cho người mua. Tuy nhiên, do H3 không biết hàng hoá trên là pháo nổ nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Vũ Huy H3 là phù hợp.

- Đối với chị Nguyễn Thị Hồng U, là vợ bị cáo T chung sống cùng nhà với bị cáo nơi cất giấu 07 hộp pháo. Tuy nhiên, do chị U không biết bị cáo T mua pháo cất dấu trong nhà. Mặt khác khi bị cáo T gọi điện nói chị mang 03 hộp pháo vứt bỏ thì chị đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Vì vậy, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị U là phù hợp.

- Đối với đối tượng tên “T5”, là người đã đặt mua pháo của bị cáo Trần Thanh T2; người tên “Lập” là người bán pháo cho bị cáo Lê Quan T và người tên B1, đã mua pháo của bị cáo T vào cuối năm 2022. Do đến nay Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch của các đối tượng, vì vậy cần tách ra khi nào xác minh, làm rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố, các bị cáo: Lê Quan T, Nguyễn Tuấn HTrần Thanh T2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Quan T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Phạt bổ sung bị cáo Lê Quan T số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng), sung ngân sách Nhà nước.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 56, 58 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo theo Bản án số 41/2022/HSST ngày 29/4/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
    • Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tuấn H số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng), sung ngân sách Nhà nước.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Thanh T2 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
    • Phạt bổ sung bị cáo Trần Thanh T2 số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng), sung ngân sách Nhà nước.

    Giao bị cáo Lê Quan T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đồng, số máy: MGD93VN/A, số seri: G0NFP3WH0D51, số imei: 359173739938894, gắn sim số: 0912217318; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xám, số máy: MGLG3LL/A, số sê ri: DNPDPWJ0D83, gắn sim số 0372231338; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, số sê ri: F2LXDLQRKPHC, số máy: MT5K2LL/A, gắn sim số 0946931458 và số tiền 600.000 (Sáu trăm nghìn đồng). Trả cho bị cáo Nguyễn Tuấn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S, màu đen, số máy: CPH1912, gắn sim số: 0389339754, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu hủy: 07 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài. Trong đó: 04 khối có dòng chữ “C0850” và 03 khối có dòng chữ "KS4-4912". Bên trong mỗi khối chứa bốn mươi bảy (47) viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2.3cm, cao 10cm, được nối với nhau bằng sợi dây truyên từ trong thân ra. Tất cả chứa trong bao tải màu đỏ được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên “Võ Như T6, Nguyễn Xuân P” và hình dấu tròn đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ".

    (Vật chứng ghi nhận theo biên bản giao nhận ngày 13/5/2024; số tiền theo Ủy nhiệm chi ngày 09/5/2024, giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người liên quan có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP Bảo Lộc;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khắc Quảng

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger